Trang chủ

Hiển thị các bài đăng có nhãn CẢM XÚC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CẢM XÚC. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

Quê hương người chiến sĩ: Nỗi nhớ khoai lang

QĐND - Chủ nhật, 27/05/2012 | 21:28 GMT+7
QĐND - Có lẽ không ở nơi đâu trên đất nước ta, khoai lang lại gắn bó mật thiết với con người và nặng nghĩa tình như ở quê tôi. Có thể nói, từ những vĩ nhân, danh nhân cho đến những con người rất đỗi bình dị cũng đều lớn lên từ khoai lang quê mẹ.
Lộc Hà (Hà Tĩnh) quê tôi là vùng có thổ nhưỡng đất pha cát, nên việc canh tác cây lúa không cho năng suất cao, thế nhưng khi trồng khoai, lạc, đỗ thì luôn nhiều củ, sai trái. Đặc biệt, khoai lang rất hợp với chất đất nơi đây. Chỉ cần cắm thân dây trên nền đất cát ở bất cứ khu vực nào là khoai lang sinh sôi, trưởng thành và cho củ rất to, nhiều tinh bột. Ngoại tôi vẫn bảo: Tại quê mình nghèo nên được trời thương "ban" cho loại củ đặc biệt có thể vừa làm lương thực thay gạo, vừa có thể chế biến thành đặc sản nổi tiếng gần xa...
Khoai lang được chế biến thành nhiều món, như: Khoai luộc, khoai xéo, khoai deo, chè khoai, bánh khoai, mít khoai... Tất nhiên, mỗi người thưởng thức khoai lang thường có khẩu vị riêng và thích cách chế biến khác nhau. Nhiều người vẫn cho rằng khoai luộc là món đệ nhất ngon, nhưng với tôi khoai lang nướng mới là món khoái khẩu. Tôi nhớ, ngày đó, cứ mỗi chiều mẹ nấu cơm, tôi lại lén vùi vào bếp tro một vài củ khoai lang. Thế là trước lúc ăn cơm, tôi luôn có món "đặc sản" lót dạ. Cứ thế, ăn khoai lang nướng trở thành thói quen của tôi tự lúc nào không biết. Cũng bởi thế mà khi đến bữa, tôi ăn rất ít cơm. Thấy tôi, cơm canh chiếu lệ, mẹ thường mắng yêu: Con ăn như vậy thì sau này lớn lên sẽ không đủ chiều cao, cân nặng để đi bộ đội đâu nhé!”. Lúc ấy, tôi chỉ biết tủm tỉm cười, lấy tay chùi miệng như thể sợ mẹ biết bí mật của riêng mình.
Giờ đây, sau bao nhiêu năm xa quê, gắn bó với nghiệp binh và đã trở thành sĩ quan quân đội, những tưởng cái cảm xúc ngày xưa chỉ còn đâu đó trong ký ức. Thế mà, chiều nay bất chợt giữa phố phường Hà Nội, cái mùi khen khét của khoai lang nướng lại giúp tôi tìm về với chính mình; tìm về với những gì thân thuộc mà thiêng liêng nhất của tuổi thơ tôi.
NGUYỄN ANH SƠN

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2012

PHẬT Ở ĐÂU?


(Bạn hãy đọc và đừng nghĩ rằng tôi có ý gì trong bài viết này. Tôi là một người được đào tạo "vô thần", nhưng tâm luôn hướng phật. Bài viết này, ghi lại một kỷ niệm cách đây hơn 10 năm trước của tôi trong một lần đi tham quan chùa).

Khi đến chùa tôi rất ngạc nhiên với mâu cỗ thờ cúng ở đây. Nó rất "thịnh soạn" và có đủ cả "cá", "thịt lợn", "thịt bò", "thịt gà". Nhưng khi tìm hiểu thì mới biết đó hoàn toàn là mâu chay. "Cá", "thịt lợn", "thịt bò", "thịt gà"... đều được chế biến từ đậu phụ, rau, củ, quả... Mà nếu không cầm lên ăn thì bạn sẽ không bao giờ phân biệt được.
Ảnh chỉ mang tính chất minh họa
Khi lớp tôi có cuộc trao đổi với vị chủ trì của chùa này, bạn bè tôi nhao lên hỏi: nào là "phật học", "phật giáo", "nguồn gốc của phật giáo", "của ngôi chùa"... Tôi cũng hỏi vị chủ trì mấy câu:
- Thưa chủ trì! Các mâm cỗ thờ cúng của chùa ta được làm rất thịnh soạn và rất đẹp? 
Vị chủ trì vui mừng đáp:
- Đó là mâu chay nhà chùa làm để dâng lên phật, thể hiện lòng thành của mình.
- Nhưng sao lại chế biến ra thịt các con vật như: gà, lợn, trâu, bò... Mà theo lời răn của phật là không được sát sinh thưa thầy?
- Nhà chùa không sát sinh, nhưng để làm cho mâu cỗ sang hơn và khi ăn có cảm giác ngon miệng hơn ấy mà.
- Nhưng trong phật giáo, con nghe nói quan trọng nhất vẫn là "tu tại tâm". Điều này có nghĩa là "phật ở trong tâm", chỉ cần tâm trong sáng, hướng thiện là có phật rồi. Chùa ta, mặc dù không sát sinh nhưng trong tâm lại sát sinh, ăn chay mà cũng nghĩ đến thịt các con vật. Vậy có đúng không thưa thầy?
Lúc này, mặt vị chủ trì biến sắc, đôi mắt ông trũng xuống. Tôi thấy ông lúng túng nên cũng không muốn hỏi gì thêm. Tôi đi ra phía sau chùa, ngồi nhìn về hướng trời xa xăm, mặt ngững lên đón những cơn gió mồ côi...
                                           NGUYỄN SƠN

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

Tiễn bạn...



Hôm nay, tôi tiễn một người bạn thân ra nước ngoài định cư. Ở phi trường, tôi bâng quơ hỏi bạn:
- Việt Nam không đủ đất để sống hay sao, mà phải đi xứ người làm kẻ ly hương bạn ơi?
Bạn vỗ vai tôi, cười rồi nói:
- Thời đại giờ làm gì còn khái niệm biên giới quốc gia nữa. Thế giới là một ngôi nhà chung mà bạn. 
Tôi nâng mép cười một cách khó nhọc và thấy thương bờ tre gốc rạ quê mình quá...
                                                               Nguyễn Sơn

Nước mắt!

Năm tôi 6 tuổi, vì đùa nghịch mà ngã xước chân, chảy máu. Và đương nhiên, một đứa trẻ 6 tuổi sẽ khóc toáng lên. Lúc đó, cha tôi ở gần đấy và tôi cứ nghĩ rằng: Ông sẽ lại bế tôi lên mà dỗ dành “Con trai của cha! Con ngã có đau không?...”.
Nhưng không! Ông lại và cầm một cây roi quất vào mông tôi rồi nói: “Làm thằng đàn ông, ngã rồi thì tìm cách mà đứng dậy. Khóc lóc được cái gì…”. Từ đó trở đi không hiểu sao, không bao giờ tôi rơi một giọt nước mắt nào nữa. Gặp những khó khăn, vấp ngã trong cuộc sống tôi cũng gượng dậy bằng chính đôi chân của mình.
Ngày cha tôi mất, khi tiễn ông về thế giới bên kia, tôi nhớ lời ông và quyết tâm không khóc. Tôi sợ ông sẽ cho tôi là một đứa con bất hiếu, vì không nghe lời ông dạy. Tôi cắn chặt môi cho tiếng khóc khỏi bật ra, nhưng tôi không làm sao ngăn được những giọt nước mắt đang chảy dài trên má. Tôi đành nói với ông rằng: Giọt nước mắt của đứa bé 6 tuổi, khác với thằng đàn ông 36 tuổi cha ơi! 
                                                  Nguyễn Sơn


Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2012

Đầu năm xem bói - cuối năm chiêm nghiệm!


Đầu năm mình đi xem bói. Thầy bói phán: "Năm nay, con sẽ phát tài...". Phát tài đâu chẳng thấy. Lương không tăng, bão giá còn hơn bão Sơn Tinh. Công chức đói giơ mõm. Thôi thì đành mượn mấy câu thơ của cụ Nguyễn Công Trứ để động viên mình vậy: 
"Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch 
Người quân tử, ăn chẳng cầu no 
Đêm năm canh an giấc ngáy kho kho 
Đời thái bình, cửa thường bỏ ngỏ"
                           Nguyễn Sơn

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

Vui - buồn cuộc sống!


Các bạn có biết không? Hôm nay mình nhận được 2 tin: một vui, một buồn. Tin vui là truyện ngắn “Thầy – trò xóm hủi” của mình đạt giải nhì cuộc thi viết "Giảng đường tươi đẹp". Còn tin buồn là vợ mình ở nhà làm cái bìa đỏ mảnh đất gia đình đang ở mãi mà không xong.
Tinh thần AQ không phải lúc nào cũng xấu! 
Mình tự hỏi: Đó có phải là hai mặt của cuộc sống không nhỉ? Mà con người phải chấp nhận cả hai? Vậy nên, mình tự nhủ, khi có niềm vui thì cố mà tận hưởng; còn nỗi buồn đến cũng phải nhấm nháp thôi. Vì dư vị cuộc sống vốn NGỌT - ĐẮNG bạn ơi!
                            Hà Nội, ngày 12/10/2012
                                   NGUYỄN SƠN

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012

BÁN HÀNG BẰNG “MỚ” - MỘT NÉT VĂN HÓA CHỢ QUÊ

                                                                        Bài dự thi viết "đời chợ, đời tôi"


Vừa mới đi làm về, chưa kịp bước chân vào nhà đã nghe tiếng càu nhàu của vợ, biết tính vợ “ruột để ngoài da”. Tôi lên tiếng hỏi:
- Có chuyện gì mà nổi “máu tam bành” vậy em?
- Bọn đểu! Ông bà ta nói cấm có sai “buôn gian, bán lận”.
- Lại mua phải thịt hôi, cá ươn hay là thiếu cân nữa đây?
- Kiểu này, chắc mỗi lần đi chợ em phải mang cân theo quá. Mua cái gì cũng vậy, một cân thì còn chín lạng…
Những điệp khúc đại loại như vậy sau mỗi lần đi chợ về của vợ tôi đã quá quen thuộc, như là “chuyện thường ngày ở huyện”. Tôi biết cái tính “chắt bóp” của vợ, nhưng cũng phải thừa nhận chuyện bị cân thiếu khi mua đồ ở chợ đã quá phổ biến.    
Điều đó, làm cho tôi nhớ đến cách bán hàng bằng “mớ” rất độc đáo của chợ quê Thạch Bằng, Lộc Hà, Hà Tĩnh. “Mớ” không có trong đơn vị đo lường Việt Nam và cũng không ai biết nó có từ bao giờ, nhưng có sức sống mãnh liệt trong các cộng đồng dân cư. Mặc dù ngày nay, người ta đã chế tạo ra đủ các loại cân tinh xảo, chính xác gần như tuyệt đối và không phải người dân quê tôi không có tiền để mua một cái cân. Nhưng ở chợ họ vẫn sử dụng phương pháp đo lường bằng “mớ” (mớ cá, mớ tôm, mớ mực, mớ hàu, mớ hến, mớ khoai, mớ đậu, mớ lạc, mớ rau...). Đó là một cách đo lường ước lượng, nhưng lại chính xác, công khai, làm thỏa mãn được người mua và người bán.
Vợ tôi là người thành phố đã quen với cân, vậy mà vẫn bị thuyết phục bởi cách bán hàng bằng “mớ” mỗi khi về quê. Tôi hỏi chuyện, cô ấy không một chút suy nghĩ mà nói ngay: “Đây không đơn thuần chỉ là cách đo lường, mà là văn hóa ứng xử giữa người mua và người bán. Đó là tính trung thực”./.
Người viết
NGUYỄN ANH SƠN

Thứ Năm, 17 tháng 5, 2012

ĐIỂM TỰA TÌNH YÊU

                                                                       Bài đăng trên Tuần san Sài Gòn Giải Phóng
                                          http://saigongiaiphong.vn/epaper/Viewer.aspx?ed=20&ne=5149&id=6

          Mới tiếp xúc với Hậu ai cũng có nhận xét: Hậu là anh chàng hội đủ các yếu tố để trở thành “niềm mơ ước” của bao cô gái. Nào là “nhà mặt phố, bố làm to”, có việc làm và thu nhập ổn định; trông cũng điểm trai, nói năng lưu loát… Thế mà ở cái tuổi “băm” vẫn “phòng không”, mặc dù ông bà đã rất mong có cháu nội để bồng bế và bản thân Hậu cũng đã nóng lòng tìm người “nâng khăn, sửa gối”.
          Là bạn thân của Hậu, nhiều lần tôi được Hậu tìm đến để “than thở”, trút bỏ ưu phiền. Tôi cũng đã bao lần làm “quân sư quạt mo” cho Hậu. Nhưng tất cả đối với Hậu vẫn là con số không tròn trịa. Nguyên nhân “thất bại” của anh bạn tôi là vì xác định mục tiêu, đối tượng không rõ ràng, thấy cô nào cũng thích, cũng muốn. Nhưng khi “tấn công” thì không có lập trường; “đứng núi này, trông núi nọ”, nghe ai “xui bậy” thì hoang mang, dao động. Ngỏ lời yêu đối với Hậu như người đi câu cá, cứ thả cần chỗ này thấy cá không cắn thì nhấc lên, mang đi thả chỗ khác và chỗ nào Hậu cũng thả được. Đã có khi Hậu phải thốt lên: “Chỉ cần ai đồng ý là cớ cưới luôn”, nhưng tất cả đều quay lưng lại với Hậu. Khi tiếp xúc với các “đối tượng” của Hậu họ đều có chung một nhận xét: “Làm sao em có thể tin và trao thân, gửi phận cho anh ấy được”.
          Đành rằng tình yêu là chuyện của con tim, mà lý trí không thể giải thích được. Nhưng ở thời đại nào cũng vậy, người con gái cần ở cánh “mày râu” chúng mình “một điểm tựa” vững chắc với đầy đủ ý nghĩa của nó. Dù chúng ta có nhiều tiền của, có điểm trai, lời tỏ tình có hay, có hấp dẫn như thế nào đi chăng nữa, mà người con gái vẫn cảm thấy “bất an” khi ở bên chúng ta, thì sẽ có kết quả như anh bạn của tôi mà thôi. Là một người lính quanh năm công tác xa nhà và chỉ “nuôi vợ bằng thư, nuôi con bằng kẹo”; bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông với bao khó khăn cứ chồng chất lên đôi vai gầy guộc của vợ tôi. Thế nhưng tình yêu của chúng tôi vẫn nồng nàn như những ngày đầu mới yêu nhau. Nhiều người hỏi vợ tôi: “Điều gì giúp chị có nghị lực như vậy?” Cô ấy trả lời: “Chúng tôi đã cho nhau một điểm tựa để sống và yêu thương”.
NGUYỄN ANH SƠN

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

NỖI NHỚ KHOAI LANG

                                                                                                 Bài đăng trên báo QĐND
                                http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/10/91/91/190649/Default.aspx

Có lẽ không ở nơi đâu trên đất nước ta, khoai lang lại gắn bó mật thiết với con người và nặng nghĩa tình như ở quê tôi (Lộc Hà, Hà Tĩnh). Có thể nói, từ những vĩ nhân, danh nhân cho đến những con người rất đỗi bình thường cũng lớn lên từ khoai lang quê mẹ.
Là vùng có thổ nhưỡng đất pha cát - đất của nửa biển nửa đồng bằng hội tụ, nên khi trồng lúa thì kém cỏi, mà trồng khoai, trồng lạc, trồng đỗ thì ở đâu cũng nhiều củ, sai trái. Khoai lang ở quê tôi được chế biến ra không biết bao nhiêu là món ăn thân thuộc như: khoai luộc, xoai xéo, khoai deo, chè khoai, bánh khoai, mít khoai... và có những lúc đó là món ăn chính trong mỗi gia đình. Kiểu ăn khoai lang cũng lạ đời lắm. Mùa thu hoạch khoai thì cũng đồng thời là mua thu hoạch lạc, bà con đem rửa lạc tươi cho sạch để xuống dưới nồi, đôi khi còn thêm một nắm quả đậu ương ương, rồi mới sắp khoai lên trên, đổ nước vào luộc chín; khi ăn thì ăn chung cả khoai, đậu và lạc luộc. Ngoài ra, còn có một cách ăn khoai luộc khác, đó là rổ khoai bày ra bao giờ cũng có đọi cà pháo đi kèm, một miếng khoai lại một miếng cà như ăn cơm vậy.
Nhưng có lẽ khoai lang nướng mới để lại trong tuổi thơ tôi nhiều dấu ấn và dư vị ngọt ngào, da diết nhất. Thuở nhỏ, cứ mỗi chiều mẹ nấu cơm xong, tôi lại lén lùi một củ khoai lang vào tro bếp. Thế là trước khi ăn cơm, tôi có món khoai nướng lót dạ trước. Và nó trở thành thói quen của tuổi thơ nên cứ mỗi lần nấu cơm xong mẹ lại lùi vào tro than cho tôi một củ vừa vừa. Tôi vẫn còn nhớ như in cái nóng của củ khoai nướng thấm vào lòng bàn tay, truyền dần vào cơ thể tôi. Mùi thơm đặc biệt của nó được toát ra từ bên trong lớp vỏ cháy sém, đen thui. Nó càng rõ ràng hơn khi bẻ từng miếng cho vào miệng. Lúc ấy, mùi thơm hòa nhuyễn trong cái vị ngọt nhẹ và dịu nóng ngay đầu lưỡi.
Đến nay, đã bao năm xa quê và khi đã trở thành một sĩ quan quân đội, tôi tưởng như sẽ không bao giờ còn nhớ đến củ khoai lang nữa. Thế mà bất chợt, giữa phố phường Hà Nội cái mùi khen khét của khoai lang nướng lại giúp tôi tìm về với chính mình, với những gì thân thuộc mà thiêng liêng nhất…
NGUYỄN ANH SƠN

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

VỀ MIỀN KÝ ỨC


          Tôi trở lại làng Jơ-ri một buổi chiều cuối thu. Cũng đã lâu lắm rồi, công việc và cuộc sống mưu sinh, như một bức tường vô hình ngăn cản con đường tôi trở lại mảnh đất này, như lời đã hứa với già làng Đinh Yêng trước lúc chia tay trở về đơn vị: “Con về rồi, khi nào có điều kiện con sẽ đến thăm già và bà con trong làng…”
Tôi chờ cho có “điều kiện” thì đã gần mười năm trôi qua, và giờ đây làng bản đã có nhiều đổi thay, những đứa trẻ ngày nào bủng beo, tóc cháy, da sém giờ đã thành những nam thanh, nữ tú của đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ. Thấy tôi ai cũng e thẹn, khép nép, chứ có như ngày nào, họ đã từng coi tôi là một phần không thể thiếu trong niềm vui, nỗi buồn của cuộc sống. Đinh Át nhận ra tôi từ xa, em gọi và chạy đến đón tôi, như đón một người anh đi xa mới về. Tôi cũng ngỡ ngàng ôm lấy hai bờ vai chắc nịch của Át. “Ôi! Đinh Át đã lớn như thế này rồi sao? Mị và các em có khỏe không? Học hành tốt cả chứ? Thế này, thì bị bắt làm chồng mất thôi”.
Tôi cứ thế xổ ra một tràng mà không để cho Đinh Át trả lời. Át đã lớn phỏng lên như thổi, cường tráng như con hổ, con báo trong rừng, nhưng vẫn dáng vẻ trầm tư, ít nói và đôi mắt thì không có gì đổi khác. Nó vẫn to hơn so với bình thường và trong veo, sâu thẳm đến khôn cùng. Đối mắt ấy lúc nào cũng có ánh lửa, cháy sáng thiêu đốt những ai đối diện nó. Thú thực tôi đã bao lần, phải bối rối trước ánh mắt ấy. Nó đã “ám ảnh” tôi trong suốt mười năm qua và có lẽ cả cuộc đời này tôi cũng không thể nào quên được.
Năm đó tôi làm đội trưởng đội dân vận, đóng quân trên địa bàn làng Jơ-ri, Bờ Ngoong, Chư Sê, Gia Lai. Sau ba tháng công tác chúng tôi không chỉ thực hiện những nhiệm vụ hàng ngày của một đội dân vận, mà còn là chỗ dựa về tinh thần cho đồng bào trong cuộc sống đầy rẫy những khó khăn, thiếu thốn và cả trong cuộc đấu tranh chống lại bọn xấu…
Trong bao ngổn ngang kỷ niệm, tôi còn nhớ như in, ngày đầu tiên đến vận động gia đình Đinh Át cho em tiếp tục đến trường. Tôi đã giật mình với cái đói, cái nghèo đến thắt ruột ở nơi đây. Gia đình Đinh Át cũng như bao gia đình khác, không có nổi một tài sản đáng giá tiền trăm. Khi mà cái ăn còn chưa đủ no, cái mặc còn chưa đủ ấm, thì việc học lấy con chữ mấy ai quan tâm. Buổi chiều cuối năm ấy, đã tạc vào tâm trí tôi những khoảng tối của cuộc sống, để rồi ám ảnh tôi trong suốt những chặng đường công tác.
Tôi không thể nào quên, căn nhà sàn nằm chơ vơ trên đỉnh đồi, như là sự bấp bênh, gieo neo của chủ nó. Không thể quên mùi hăng hắc, ngai ngái của rau Sắn vốn là thức ăn chính cho gia đình trong buổi tối. Không thể quên những đứa trẻ môi tím ngắt vì rét… Và tôi đã gặp thất bại đầu tiên khi bố Đinh Át tuyên bố chắc nịch: “Nhà mình không có cơm ăn, không có mì ăn. Khổ lắm! Bộ đội không biết được đâu. Thằng Át đi học biết mặt con chữ là được rồi, nó còn phải ở nhà đi rẫy để nuôi em”.
Khi chiều đã buông xuống nặng trịch, những rặng núi xanh rì rào biến đi đâu mất, chỉ còn nghe những tiếng chim lạc đàn kêu toang toác. Tôi không còn đủ can đảm để ở lại ngôi nhà đó nữa, tôi lao ra cửa và bước đi như ai đuổi. Dường như sau lưng tôi có ánh mắt của bố mẹ và các em của Át, cả ánh mắt của Át nữa đang bám lấy tôi, làm bước chân tôi lạng choạng nhưn người đang say rượu./.
NGUYỄN ANH SƠN

MỰC CỬA SÓT - ĐẬM ĐÀ HƯƠNG VỊ QUÊ NHÀ


         
            Người Hà Tĩnh dù đi đâu vẫn luôn nhớ về quê nhà, nơi chắt chiu nhiều khó nhọc của nắng gió miền Trung. Nhưng cũng là nơi cho con người nhiều món ăn ngon mà rất đỗi bình dị. Mực cửa sót quê tôi là một món ngon như thế.
            Cửa sót thuộc huyện Lộc Hà là một trong bốn cửa biển của Hà Tĩnh, là nơi giao thoa của hai dòng nước. Người dân chủ yếu sống bằng nghề câu mực và chế biến hải sản. Mực Cửa Sót có nhiều loại chia theo thứ hạng một, hai, ba. Con mực to nhất là mực chúa, nó xây tổ như tổ ong ở các gò cát xốp. Ban ngày nắng nóng thì chui vào cát ẩm. Tối đến, khi ánh đèn hắt xuống, mực mới ra và bắt đầu vũ điệu tuyệt vời với những bước nhún nhảy thụt lùi. Loại mực to có tên gọi là mực Kim khôn ngoan, câu được nó không phải là dễ. Còn có loại mực chỉ to bằng hai ngón tay gọi là mực Lỗ sinh sôi ở gần bờ trong cửa lạch, dân chài ít khi câu mà chỉ dùng vợt xúc.
Người dân quê tôi chế biến mực bằng nhiều cách, nhưng phổ biến nhất vẫn là món mực luộc. Ngoài ra còn làm món nem bằng cách rút đầu mực ra và nhét vào đó các loại da vị như: thịt thăn băm trộn với mộc nhĩ, nấm hương… rồi rán lên, chấm bằng nước mắm cá thu hảo hạng cho vào chút tinh dầu cà cuống là tuyệt nhất. Khi khách quý đến nhà chơi, người ta thường thường tiếp các món mực với chai rượu nếp trong vắt nút bằng lá chuối khô đậm đà ân tình xứ nghệ./.
 NGUYỄN ANH SƠN

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2012

Con lại về Tây Nguyên

                                Bài đăng trên báo  QĐND - Thứ Sáu, 20/04/2012, 10:41 (GMT+7)
                                     http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/91/68/75/75/75/185137/Default.aspx


QĐND - Tháng 1-1972, bố tôi lên đường nhập ngũ. Cả cuộc đời binh nghiệp của ông đã theo chân đoàn Đắc Tô -Binh đoàn Tây Nguyên đi đến tận cùng cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Khi đất nước thanh bình, ông trở về với quê hương trong sự mừng vui khôn xiết của gia đình, vì mũi tên, hòn đạn đã chừa bố tôi ra, ông hoàn toàn lành lặn và khỏe mạnh. Rồi niềm vui lại được nhân lên gấp bội khi ông lập gia đình và đứa con trai đầu lòng là tôi khỏe mạnh ra đời.   
Nhưng một lần nữa, bóng ma chiến tranh lại ập xuống gia đình tôi. Ba đứa em tội nghiệp của tôi sớm phải lìa đời do di chứng chất độc hóa học, còn đứa em út còi cọc, dị dạng. Kinh tế gia đình cũng theo đó mà kiệt quệ... Tôi không thể quên được những giọt nước mắt chảy ra đỏ như máu của mẹ tôi và khuôn mặt nhàu nát của bố tôi. ánh mắt và trái tim trẻ thơ non nớt của tôi lúc đó không hiểu chiến tranh là gì? Chất độc da cam là gì? Nhưng những buồn đau của gia đình và niềm hy vọng cuối cùng của bố mẹ thì tôi thấy rõ lắm. Và tôi ý thức được điều đó...
Tôi không thể quên được nỗi vui sướng của bố mẹ khi tôi thi đỗ vào Học viện Chính trị -Quân sự (nay là Đại học Chính trị). Đặc biệt là bố tôi, cái hào khí của một thời trai trẻ lại hiện về trong ông, khi tôi tiếp nối ông khoác lên mình màu áo lính. Và một lần nữa như còn duyên nợ với mảnh đất Tây Nguyên bất khuất, tốt nghiệp ra trường tôi được giao nhiệm vụ về Binh đoàn Tây Nguyên công tác. Ngày tiễn tôi vào Tây Nguyên, mẹ tôi đã làm mọi cách để tạo cho không khí gia đình vui vẻ, nhưng trên khuôn mặt không giấu được nỗi buồn khi đứa con “độc đinh” của bà phải sống xa nhà đến hàng nghìn cây số. Và hơn nữa, mảnh đất Tây Nguyên mà bà biết được qua những lời kể của bố thì vẫn còn là nơi khó khăn, vất vả lắm. Còn bố tôi thì rạng ngời ánh mắt khi tôi nói: “Con vào ổn định công tác, rồi con sẽ đưa bố vào thăm chiến trường xưa!”.
Trong hành trang của tôi khi vào Tây Nguyên có những ngày tháng đau thương của gia đình, những kỷ niệm của bố tôi về Tây Nguyên, những hoài bão của tuổi trẻ... và có cả những nỗi lo, nỗi ám ảnh của những di chứng chất độc da cam. Tôi chỉ thật sự yên tâm và sung sướng khi đứa con gái đầu lòng của tôi được sinh ra, lớn lên khỏe mạnh.
Niềm vui đó như được nhân lên khi tôi ngày càng trưởng thành dưới mái nhà Binh đoàn Tây Nguyên anh hùng, nơi bố tôi và đồng đội của ông đã không tiếc máu xương xây đắp nên. Và giờ đây, điều mà tôi hạnh phúc hơn ai hết là trong mỗi bước đi, trong những niềm vui, nỗi buồn của cuộc sống luôn có bố tôi ở bên cạnh, ông đã “truyền lửa” và giữ vững niềm tin cho tôi phấn đấu./.
                                  Nguyễn Anh Sơn


Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

“BÁT NƯỚC CHÈ XANH ẤM TÌNH NGƯỜI XỨ NGHỆ”

                   Bài đăng trên báo SGGP và phát trên Chương trình Phát thanh Quân đội

Quê tôi Lộc Hà, Hà Tĩnh không biết tự bao giờ đã truyền nhau câu hát: “Ai ơi cà xứ Nghệ càng mặn lại càng giòn; nước chè xanh xứ Nghệ càng chát lại càng ngon”. Bao năm xa quê, nhưng hương thơm và vị đậm của thức uống dân dã ấy, vẫn hiện về nguyên vẹn trong ký ức tôi. Cây chè được trồng ở khắp nơi trên cả nước, nhưng chè xanh Hà Tĩnh vẫn được xem là thơm ngon, đậm đà riêng có. Có lẽ vì chúng được trồng ở một mảnh đất cằn sỏi đá, thời tiết khắc nghiệt. Mùa hè gió Lào bỏng rát, mùa đông giá lạnh thấu xương, nên trong mỗi thân cây dường như đã hội đủ vị chát đắng, mặn mòi đặc biệt của đất trời và mồ hôi của những người dân lam lũ quê tôi.
Để có bát nước chè xanh thơm ngon, đậm đà thì phải chọn những cây chè mọc ở nơi có ánh mặt trời, không bị những tán cây lớn che khuất. Lá chè để nấu nước không được non hoặc già quá và cây chè càng mọc ở trên đồi cao thì nước càng ngon. Nước để nấu chè xanh cũng rất quan trọng. Những giếng nước nấu chè xanh ngon có mạch trong veo ở trên vùng đất cao, xa ao hồ, ruộng đồng. Củi nấu cũng góp phần tạo nên chất lượng của ấm chè xanh. Nấu chè xanh phải đun bằng củi gỗ thì nước mới thơm ngon. Cách chế biến chè cũng là cả một “nghệ thuật”. Chè đem về được rửa sạch, vò kỹ cho dập lá, cọng bẻ gãy và tước ra. Đun cho nước sôi rồi mới cho chè vào, sau đó tiếp tục đun cho nước sôi lại, đến khi có màu xanh thì nhấc xuống, múc ra uống là vừa, không được để sôi kỹ quá, nước sẽ có màu bầm tím và rất khó uống.
Uống nước chè xanh ở quê tôi không chỉ là một thói quen sinh hoạt hàng ngày, mà còn là một tập tục văn hóa truyền thống đậm tình xứ Nghệ. Nước chè xanh gắn bó với mỗi đời người từ thuở thiếu thời cho đến lúc về cõi vĩnh hằng. Khi xa quê tiếng "gọi chè" luôn thổn thức trong tôi, đưa tôi về sống với kỷ niệm êm đềm của những đêm hè nóng nực, trong xóm nhỏ, những người dân quê tôi lần lượt nấu từng nồi nước chè to rồi mời bà con, chòm xóm đến uống. Chẳng ai bảo ai, thân thiết và tự nguyện, lần lượt thay nhau. Những người phụ nữ xứ Nghệ tảo tần, lam lũ đến lượt nhà mình "gọi chè" thường cố gắng chuẩn bị thật chu đáo. Nồi nước chè lúc ấy không chỉ thể hiện sự hiếu khách, nghĩa tình mà còn trở thành tiêu chí để đánh giá cái đảm đang, khéo léo của gia chủ, một niềm tự hào lặng lẽ, âm thầm mà mãnh liệt bao đời nay.
Trong cuộc sống hối hả, bộn bề nơi thị thành tráng lệ, thứ thức uống giản dị mang hồn vía của quê hương vẫn hiện hữu trong ký ức tôi, trong lao xao nắng gió tôi lại nghe “khúc dân ca quê mình, để tôi sống giữa bao nhiêu ân tình, bao ân tình mộc mạc làng quê, trưa nắng hè, gọi nhau râm ran chè xanh”./.
                                  
NGUYỄN ANH SƠN

Thứ Hai, 19 tháng 3, 2012

Đôi bàn tay mẹ

                                                                         Bài đăng trên Tuần san SGGP
                                         http://saigongiaiphong.vn/epaper/Viewer.aspx?ed=20&ne=5459&id=5

Đầu đã hai thứ tóc, vậy mà sống mũi tôi vẫn cay xè khi anh bạn đột nhiên hỏi: “Giờ nghĩ về quê hương, anh nhớ gì nhất?”. Tôi không suy nghĩ, mà nói  ngay: “Đôi bàn tay mẹ”.

Ai cũng biết, mỗi con người đều lớn lên từ đôi tay mẹ. Tôi cũng không phải là một ngoại lệ. Nghe mọi người nói, khi còn nằm trong nôi tôi là đứa “trẻ hư”, hễ rời tay mẹ là khóc ngoặt ngoẹo. Lớn lên đi học, tôi vẫn có thói quen vùi đầu vào tay mẹ để lấy hơi ấm, và khi nằm ngủ, không có bày tay mẹ đặt lên người, thì không thể nào tôi chợp mắt nổi. Ở cái nơi cát trắng gió lào như quê tôi mà để cho con có giấc ngủ sâu đôi bàn tay mẹ phải thức suôt cả mùa hè.

Quên làm sao được khi đôi bày tay ấy vừa mới tất tả gặt lúa ngoài đồng, đã phải vội vàng về lo cơm nước cho chồng con. Đôi bàn tay vừa kịp bán mớ rau buổi sáng, đã vội về lo kiếm rau buổi chiều. Những tháng năm bố công tác xa nhà, đôi bày tay mẹ lại thay bố dìu dắt tôi khôn lớn. Và cũng vì vậy, mà đôi bày tay mẹ ngày càng khô ráp, chai sần, đen đúa, ám nước sình lầy quê mùa..

Ngày tôi lên đường nhập ngũ, đôi bàn tay mẹ lại tất tưởi, bịn rịn thu xếp hành lý, tiễn tôi đi “chân cứng đá mềm”. Đêm đầu tiên xa bàn tay mẹ tôi đã khóc. “Con trai không được chảy nước mắt” – Mẹ vẫn thường dạy tôi như vậy, mỗi khi tôi lạc lối, vấp ngã.

Chiều đông. Nghe tin đôi tay mẹ, không còn đủ sức chèo chống giữa cuộc đời này nữa. Tôi về. Mẹ đặt cả đôi bàn tay xương xương, nhăn nhúm lên hai má tôi và cố truyền những hơn ấm cuối cùng còn lại cho con trai của mẹ. Khép lại một vòng tay đời mẹ chỉ biết có chồng con, mà không làm gì cho riêng mẹ. Mẹ ơi!   
                                                    Nguyễn Anh Sơn