Trang chủ

Hiển thị các bài đăng có nhãn CHUYỆN KỂ Ở ĐẠI ĐỘI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CHUYỆN KỂ Ở ĐẠI ĐỘI. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012

ĐUA ĐÒI “SÀNH ĐIỆU”


          
          Các đồng chí ạ!
          Trong cuộc đời ai cũng có những sai lầm, những lần vấp ngã, đặc biệt là đối với tuổi trẻ. Vấn đề là, sau mỗi lần vấp ngã đó, chúng ta phải đứng dậy như thế nào. Đã có câu danh ngôn rằng: “Thất bại là mẹ của thành công”.
          Vâng! Tôi xin kể các đồng chí nghe một câu chuyện, một kỷ niệm buồn của tôi. Năm 1998, tôi tốt nghiệp lớp đào tạo trung đội trưởng ngắn hạn 801 và được phong quân hàm trung úy chuyên nghiệp. Được trở thành cán bộ phục vụ lâu dài trong quân đội, lại đóng quân ở phố núi mộng mơ. Chà! Chà!... Thông tin đó đã làm xôn xao cái xóm nghèo vốn rất đỗi yên bình của “khúc ruột” miền Trung quê tôi.
          Không thể diễn tả được hết những niềm vui sướng của các thành viên trong gia đình tôi. Bố tôi là một cựu binh, có một phần xương thịt để lại trên chiến trường miền Nam trong những năm đánh Mỹ. Ông vui vì đứa con trai lớn đã tiếp bước con đường binh nghiệp của mình. Bao giờ cũng vậy, trước mỗi bữa cơm chiều, vừa nâng chén rượu sóng sánh, ông vừa căn dặn mấy đứa em tôi:
          - Mấy đứa bây, phải lấy anh mày làm gương, để mà phấn đấu học hành. Đứa mô mà lớt phớt là không xong với bố đâu đấy!…
          Mẹ tôi thì không phải nói, bà “mở mày mở mặt” với xóm giềng lắm. Mà cũng đúng thôi! Qua bao năm tháng tảo tần vất vả, đã nuôi nấng được một đứa con trai trưởng thành, giờ nó đã là “người của Nhà nước” rồi. Mấy đứa em tôi thì hãnh diện và tự hào về anh trai của mình lắm, đi đâu chúng nói cũng khoe có anh trai là cán bộ quân đội…
           Thế nhưng, ngày vui “ngắn chẳng tày gang” vì sự nông nổi, bốc đồng và đua đòi của mình. Khi đã là “cán bộ” tôi hoàn toàn trở thành một con người khác, với những thú chơi “sành điệu” theo kiểu “trưởng giả học làm sang”.      
          Các đồng chí có biết không? Tôi đã lao vào mua sắm rất nhiều quần áo đắt tiền. “Dế yêu” cũng phải là loại sang trọng, chính hãng Nokia mới xài. “Ngựa sắt” hả? Cũng vớt vát tậu được một con Wave RS… để không “kém anh, kém chị”. Trong ăn tiêu tôi cũng hào phóng và luôn “vung tay quá trán”, không kể đó là việc gì và với bất cứ ai, nhất là khi…khi có…“các em áo hồng, áo tím”. Cái bệnh sĩ diện của tôi lại cao hơn cả núi thái sơn, nên che khuất tất cả. Tôi “quyết hết”.   
          Với các khoản chi tiêu đó, thì đồng lương trung úy chuyên nghiệp ít ỏi của tôi không bao giờ đủ. Vì vậy, tôi viện đủ mọi lý do để rút hầu bao của bố mẹ, mà không cần biết ở nhà ông bà có hay không. Lúc thì “con cần tiền đi học thêm tiếng Anh, học thêm vi tính để nâng cao trình độ”; lúc thì “con đang ốm cần có tiền mua thuốc tốt điều trị” v.v…và v.v…
          Sau một năm tôi về phép, ngôi nhà và cảnh vật xưa vẫn thế, nhưng đã có một cái gì đó khac khác mà tôi lờ mờ cảm nhận được. Không khí trong gia đình trầm lặng, buồn tẻ. Hằng ngày tôi thấy bóng mẹ liêu xiêu trong nắng sớm mưa chiều, cõng trên đôi vai gầy guộc của mình, khi thì gánh rau, gánh dưa hay gánh khoai… hết phiên chợ sáng đến phiên chợ chiều, để đổi lấy vài ba bơ gạo, một mớ tép cho ba bữa cơm. Mái tóc của bố tôi đã bạc nhiều hơn, và đôi mắt sâu thẳm lúc nào cũng nhìn xa xăm. Đêm đêm trái gió trở trời, vết thương xưa lại hành hạ ông với những cơn đau quằn quại triền miên. Mấy đứa em tôi thì xanh xao, vàng vọt; lấm lét trong những bộ áo quần rách tả tơi…
          Ngày tôi sắp hết phép, chuẩn bị trở lại đơn vị. Mẹ lấy trong túi vải ra một trăm ngàn đồng, loại tiền mệnh giá một, hai ngàn đồng còn sặc mùi mồ hôi, mà chắc bà đã tích góp trong mỗi phiên chợ, đưa cho tôi và nói:
- Con cầm lấy để uống nước dọc đường, từ nay chắc bố mẹ cũng không có tiền để gửi cho con nữa đâu. Có lương rồi, con dành dụm mà chi tiêu nhé!
Tôi chưa kịp nói gì, thì cũng đúng lúc đó thằng em út của tôi đi học về nhanh nhẩu nói:
- Mẹ ơi! Cô giáo nói ngày mai không có tiền đóng học phí thì không được đi học nữa.
Rồi nó quay sang cầm lấy áo tôi và nói:
- Anh ơi! Anh cho em tiền để đóng học phí đi! Em không muốn bỏ học đâu. Bố mẹ không có tiền nữa đâu. Sổ nhận tiền trợ cấp thương binh của bố cũng phải cắm cho người ta để vay lãi rồi...
          Lúc này, trong lòng tôi cuộn lên một cơn đau thắt ruột, cổ họng nghẹn đắng. Tôi quỳ sụp xuống, hai tay úp mặt, những giọt nước mắt chảy qua kẽ tay bỏng rát. Tôi không ngờ mình lại bất hiếu và vô tâm đến như vậy. Tôi đã tiêu xài cả những đồng tiền đổi bằng xương máu của bố, mồ hôi, nước mắt của mẹ.
          Thế rồi với bản lĩnh của bố và đức hy sinh của mẹ, đã động viên đưa tôi trở lại với chính mình. Trả phép trở về đơn vị, tôi rũ bỏ tất cả những thói hư, tật xấu của mình. Không ngừng học tập, rèn luyện; luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Được cấp trên tin tưởng và đồng chí, đồng đội mến phục.
          Giờ tôi đã trở thành một sĩ quan, một cán bộ tiểu đoàn rồi, nhưng những kỷ niệm buồn của một thời nông nổi vẫn khắc sâu trong lòng. Tôi coi đó như một tấm gương đen, một bài học đắt giá cho cuộc sống để thường xuyên soi lại và nhắc nhở mình không vướng vào những sai lầm, khuyết điểm tương tự./.                      
 NGUYỄN ANH SƠN

Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2012

MÓN QUÀ TÌNH YÊU

                                                              Bài phát trên Chương trình Phát thanh Quân đội
          Các đồng chí ạ!
        Thường thì khi được tặng quà, mà nhất là người yêu tặng thì ai cũng vui, cũng mừng. Ấy thế mà tôi thì hoàn toàn ngược lại… mới khổ chứ! Điều tưởng chừng như vô lý ấy, lại hoàn toàn có lý, khi gắn với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Nhất là khi mình đang ở trong quân đội với tính chất, nhiệm vụ hoạt động mang tính đặc thù cao.
          Chuyện là thế này các đồng chí ạ! Năm đó, tôi chỉ còn chưa đầy bốn tháng nữa là hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về quê hương. Biết được điều đó, cả nhà tôi ai cũng vui sướng. Vì cậu quý tử của họ sắp hoàn thành một nhiệm vụ trọng đại, có ý nghĩa nhất trong đời. Đặc biệt là… người ấy! Ôi!... Khỏi phải nói. Nàng mừng ra mặt. Điều đó cũng dễ hiểu thôi! Đúng không nào? Yêu nhau mà xa cách đằng đẳng hơn một năm trời, giờ sắp được gần nhau, ai mà không vui, không sướng cho được chứ.
Nhưng có một điều lạ là, mọi cái nàng đều tăng cường độ lên gấp đôi, gấp ba so với trước. Những cánh thư đến với tôi cũng nhiều hơn, những cuộc điện thoại mà tôi phải đi cả ki-lô-mét để lên căng tin mới nghe được cũng dày đặc hơn… Các đồng chí có biết không? Nàng còn sử dụng tổng hợp các biện pháp để quản lý tôi nữa chứ, nhất là các “biện pháp mềm” theo phương châm “lạt mềm buộc chặt”. Mà món “quà tình yêu” là một ví dụ.
          Năm đó, khi kết thúc huấn luyện, tôi được cấp trên giải quyết cho nghỉ phép. Mặc dù chỉ có 15 ngày phép ngắn ngủi thôi, nhưng giữa tôi và nàng có bao kỷ niệm êm đềm. Đêm trước lúc tôi lên đường trở lại đơn vị, nàng dúi vào tay tôi một gói nhỏ và nói:
          - Em!… Em tặng anh! Mong rằng anh sẽ nâng niu và trân trọng nói như chính em vậy!
          Tôi nhận quà em trao với một niềm xúc cảm trào dâng và cảm ơn em bằng giọng nói run run trong cổ họng. Nhưng… tôi chưa cảm nhận được hết niềm hạnh phúc đó. Thì ôi thôi!... Tôi đã bị kéo tuột từ tầng cao của niềm vui sướng xuống tận nỗi băn khoăn, lo lắng, khi biết được món quà đó là một chiếc điện thoại di động Nokia đời mới. Và nàng nói luôn ý định là muốn lập “đường dây nói tình yêu” giữa tôi và nàng.
          Các đồng chí biết rồi đấy! Vì nhiều lý do về bảo đảm bí mật quân sự, mà Hạ sĩ quan, binh sĩ đang thực hiện nhiệm vụ trong quân đội không được sử dụng điện cá nhân. Ở đơn vị tôi, quy định này được thực hiện rất nghiêm và nếu ai vi phạm thì bị xử phát nghiêm khắc. Thấy tôi lưỡng lự, băn khoăn, nàng dỗi hờn, nũng nịu:
- Vì!… vì yêu anh… mà… mà em không có được những ngày tháng hạnh phúc như chúng bạn. Mỗi lúc nhớ anh, muốn  tâm sự với anh em cũng không biết phải làm sao…
- Anh biết mà! Nhưng!... Nhưng!... Anh đang thực hiện nghĩa vụ quân sự! Anh phải chấp hành quy định của đơn vị.
- Em không biết!... Em không biết!... Em mặc kệ anh!
Nàng vừa nói, vừa sụt sịt khóc rồi bỏ chạy, đẩy tôi rời vào thế “tiến thoái lưỡng nan”. Ây! (tiếng thở dài)… Tôi đành tặc lưỡi, thôi thì “Trời không chịu đất, thì đất phải chịu trời”. Và tôi nghĩ “cũng chỉ còn mấy tháng nữa là mình ra quân rồi, không thể để cho nàng giận được. Không khéo… có khi lại mất nàng như chơi ấy chứ… và nếu biết cách sử dụng thì chắc gì cán bộ đã phát hiện ra được…”.
Tôi yên tâm với suy nghĩ đó, và lập trình một kế hoạch sử dụng “món quà tình yêu” vào các “giờ độc” để qua mắt mọi người, mà chủ yếu là các anh cán bộ. Đó là những thời điểm mà tôi nghĩ “quỷ không biết, thần không hay” như: buổi trưa hay sau 22 giờ, khi mà mọi người đã yên giấc nòng, thì tôi và “món tình yêu” mới hoạt động. Cũng có khi tôi lợi dụng “địa hình, địa vậy” để kết nối “đường giây nóng tình yêu” với nàng bằng các tin nhắn.v.v...
Nhưng các đồng chí ạ! “Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt”; những hàng động của tôi đã không qua được mắt chính trị viên đại đội. Nói các đồng chí đừng cười!... Tôi… tôi bị tóm sống khi đang trao gửi những lời yêu đương mặn nòng với nàng. Đã bao năm qua rồi, nhưng tôi vẫn còn khắc tạc từng câu, từng chữ của chính trị viên khi gọi tôi lên nhà chỉ huy đại đội:  
- Anh rất hiểu nỗi nhớ mong khi phải xa người yêu. Anh cũng biết rằng trong thời đại bùng nổ thông tin mà không cho sử dụng điện thoại cá nhân, quả  không dễ chịu chút nào. Nhưng vì nhiệm vụ chung, chúng ta phải chấp hành. Em là đối tượng đảng, chi bộ đang có kế hoặc xét kế nạp đợt này. Vậy mà, em!… em đã phụ lòng mong đợi của tổ chức, của đơn vị. Đảng viên mà không gương mẫu thì làm sao giáo dục, vận động và tập hợp được anh em trong đơn vị.
  
Chuyện là thế đấy các đồng chí ạ! Bây giờ tôi đã trở thành một sĩ quan, một cán bộ chính trị trong quân đội. Nhưng “món quà tình yêu” ngày ấy, không chỉ để lại cho tôi một kỷ niệm đẹp về tình yêu đôi lứa. Mà còn cho tôi những bài học quý giá về ý thức tu dưỡng, rèn luyện của bản thân và cả những bài học trong công tác nắm, quản lý tư tưởng bộ đội, công tác bồi dưỡng điển hình tiên tiến, bồi dưỡng đối tượng Đảng trên cương vị mới./.

NGUYỄN ANH SƠN

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

ĐẠI HỘI ĐỒNG HƯƠNG

                                                             Bài phát trên Chương trình Phát thanh Quân đội

Các đồng chí ạ!
Cuộc sống quân ngũ bao giờ cũng để lại cho chúng ta nhiều kỷ niệm đẹp, nhiều bài học sâu sắc. Đặc biệt là những ngày chập chững làm lính tân binh. Đối với tôi cũng vậy.
Ngày đó tôi nhập ngũ với nhiều thanh niên trai tráng trong vùng. Và rồi trời đất run rủi thế nào tôi lại được biên chế về một đại đội mà ở đó có đến 12 đứa quê cùng một xã. Sau những ngày đầu gặp nhau làm quen, chúng tôi đưa ra ý tưởng họp đồng hương để đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong huấn luyện và công tác. Tôi tự xung phong làm trưởng ban liên lạc để thông báo cho anh em đến hội ý để làm công tác chuẩn bị. Khi 12 thành viên đã đủ cả. Dũng là đứa lớn tuổi nhất trong đám chúng tôi, lại có nhiều năm lăn lộn với nghề công nhân ở miền Nam lên tiếng:
- Các bạn ạ! Trong số chúng ta có một số người đã thoát ly đi làm ăn xa, nay về thực hiện nghĩa vụ quân sự. Nhưng đại đa số là anh em mới rời ghế nhà trường, đi vào quân ngũ nên chưa hiểu hết giá trị của tình đồng hương khi xa nhà.
Nghe Dũng nói vậy, anh em đều rất xúc động và đồng tình với ý kiến của Dũng:
- Đúng!... Đúng rồi… Đúng rồi đấy!.... Xa nhà không gì bằng tình đồng hương!
Ngọc béo cũng là một thành viên có “máu mặt” trong xã tôi, nhập ngũ năm đó khẳng khái nói:
- Bạn Dũng nói không sai chút nào. Chúng ta là đồng hương thì phải đoàn kết lại, 12 người như một. Để không những giúp đỡ nhau trong huấn luyện, công tác hằng ngày, mà có khi còn “đối phó” với các tình huống bất trắc nữa chứ... Vì vậy, tôi đề nghị họp đồng hương lần này phải bầu ra các ban bệ lãnh đạo, phụ trách và có quy chế hoạt động hẳn hoi.  
Tất cả anh em vỗ tay  tán dương ý kiến của Ngọc, Thắng cò xen vào:
- Tôi có ý kiến: Để cho tương xứng với tầm vóc của nó, tôi đề nghị chúng ta không gọi là họp đồng hương mà phải gọi là ĐẠI HỘI ĐỒNG HƯƠNG.
- Đại hội đồng hương! Hay đấy! Hay đấy!
Tất cả cùng đồng thanh nhất trí với tên gọi Đại hội đồng hương. Lúc này, Hạnh – người có vẻ điềm đạm đứng dậy nói:
- Các bạn ạ! Đại hội thì tốt rồi, nhưng theo tôi vấn đề đầu tiên vẫn là vấn đề tiền đâu. Chúng ta phải có một ít kinh phí, một bữa liên hoan tươm tươm sau khi đại hội thành công chứ. Không lẽ đại hội xong rồi giải tán. Các cậu thấy có đúng không nào?
Không khí bỗng trầm xuống hẳn, không ai nói gì. Vì trước khi nhập ngũ, chúng tôi đều là những thanh niên nông thôn nghèo. Mới vào đơn vị hôm trước thì… hôm sau đã hết tiền. Nên nhắc đến tiền ai cũng đăm chiêu.
- Tôi có ý kiến – Hòa giờ tay xin phát biểu phá tan cái không khí ảm đạm đó. Tất cả các cặp mắt đều đổ dồn vào Hòa. Cậu ta dõng dạc nói:
- Để có tiền làm kinh phí cho Đại hội đồng hương không có gì khó. Vấn đề là các bạn có muốn làm hay không thôi.
Ở dưới cùng nói nhao lên: “Ơ! Ơ hay! sao lại không? Dám… dám quá đi chứ ạ!”
- Vậy tớ xin đưa ra một sáng kiến: Mỗi người nộp một món đồ quân trang, người này cái quần, người kia cái áo, người đôi dày… miễn sao khi có “tình huống” cấp trên kiểm tra, hay trong sinh hoạt có thể mượn được của nhau là ổn.
- Ừ được đấy! Sao chúng mình không nghĩ ra nhỉ… Khi anh em đang nhốn nháo thì Dũng nói:
- Nhưng vấn đề là bán số quân trang ấy ở đâu, mình vừa mới đến đang lạ nước lạ cái.
Hòa cười và khẳng định:
- Các cậu không phải lo. Mình đã đi thị sát vùng này rồi. Có người mua quân trang với giá gần bằng giá quân nhu hẳn hoi nha. Các cậu cứ nộp quân trang đi, những việc đó để mình lo.
Sau khi chúng tôi đã bàn bạc kỹ, thống nhất ngày, giờ, kinh phí cho Đại hội đồng hương. Thì mỗi đứa chúng tôi nộp một món hàng quân trang và phấn khởi chờ đến ngày vui đó.
Ngày hôm sau, khi vừa mới đi huấn luyện về, đã nghe thấy tiếng còi và khẩu lệnh của trực ban: “Đại đội báo động hành quân di chuyển”. Cả đại đội nhanh chóng gói ghém quân tư trang ra vị trí tập trung. Cả ban chỉ huy đại đội cũng đã có mặt ở đấy. Khi hàng lối đã chỉnh tề. Đại đội trưởng không phát lệnh hành quân di chuyển mà ra lệnh kiểm tra quân tư trang đột xuất. Tất nhiên, cả hội đồng hương chúng tôi mặt ai nấy đều tái xanh.
Ôi thôi rồi! Phương án của Hòa đưa ra chỉ áp dụng được khi kiểm tra từng người, hoặc là từng trung đội. Chứ kiểm tra toàn đại đội thì coi như kế hoạch đó bị phá sản hoàn toàn. Không ai ứng cứu được cho ai. Sau khi kiểm tra xong, đại đội trưởng đọc tên 12 người thiếu quân trang và ra lệnh 15 phút sau có mặt ở phòng giao ban đại đội.
Khi chúng tôi có mặt, thì chính trị viên đại đội cũng đã ngồi chờ sẵn ở đó với toàn bộ quân trang của chúng tôi đem đi bán. 12 đứng chúng tôi  tim như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, không ai dám nhìn ai. Chính trị viên nói:
- Các đồng chí đã biết những sai phạm của mình chưa? Đồng hương đoàn kết để tương trợ, giúp đỡ nhau trong huấn luyện, công tác là rất tốt. Nhưng bán quân trang để họp đồng hương là một việc làm không thể chấp nhận được. Quân trang cấp cho các đồng chí không chỉ để sinh hoạt hằng ngày mà cả khi làm nhiệm vụ chiến đấu. Vì vậy, quân trang được quản lý, sử dụng như một loại hàng đặc biệt. Đó còn là hàng quốc cấm, những cá nhân và tổ chức không có thẩm quyền thì không được mua bán… Vậy mà!... Các đồng chí!... Các đồng chí!... Lại làm việc tày đình như vậy! Cũng may đại đội phát hiện sớm, nên đã chuộc lại toàn bộ số quân trang đó...
  Nghe đến đây thì tất cả chúng tôi mới thấy hết sự nông nổi và liều lĩnh của mình. Sau lần đó, cả 12 đứa đều bị kiểm điểm trước đơn vị. Đó là một bài học sâu sắc của những ngày làm lính tân binh, mà sau này khi đã trở thành một sĩ quan rồi tôi vẫn không thể nào quên./.

 NGUYỄN ANH SƠN

CÁCH TỎ TÌNH CỦA LÍNH

                                                                Bài phát trên Chương trình Phát thanh Quân đội
          Các đồng chí ạ!
          Người ta vẫn thường nói “đường vào tình yêu có trăm vạn nẻo”. Nên ngỏ lời yêu (hay nói cách khác “tỉnh tò – tỏ tình” ấy mà) cũng có một nghìn linh một cách. Chúng ta đã được chứng kiến hay đã được nghe ở đâu đó có nhiều chiêu “tỏ tình khủng” của bạn trẻ thời @.
          Nhưng tôi cam đoan rằng, cánh lính chúng tôi cũng có những cách tỏ tình ngọt ngào, lãng mạn làm say đắm bạn tình, nhưng cũng rất đặc trưng, rất lính, theo cái kiểu:
“Anh là lính  quen có hàng có lối
Anh không ưa bước lỡ nhịp còi
Và ghét cay ghét đắng ở đời
Những kẻ nào lánh xa đồng đội”.
          Để minh chứng cho điều đó, tôi xin kể với các đồng chí chuyện… “tỉnh tò” của tôi với người ấy.
          Chuyện là thế này các đồng chí ạ! Năm đó, tôi 21 tuổi là học viên năm thứ 2 của trường Đại học Chính trị. Nhưng… nói nhỏ các đồng chí đừng cười nhé! “Tôi… tôi đi vào quân đội mà chưa hề có một mảnh tình rách vắt vai”. Trong khi đó đồng đội tôi. Ôi!.. chặc, chặc, chặc (tiếng chặt lưỡi). Đứa nào đứa nấy cũng dày dặn trong tình trường; cũng là bậc thầy mỗi khi giảng giải tình yêu cho tôi.
          Thế rồi, trong đợt dân vận cuối năm đó, cả đại đội tôi hành quân về làng quan họ Đông Xá, thuộc thành phố Bắc Ninh. Nhiệm vụ dân vận thì đã rõ: là “cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân”. Và trong một buổi đi lao động với thanh niên địa phương, đồng đội tôi và các bạn thanh niên ai cũng có đôi có cặp, họ vừa làm việc, vừa nói chuyện rất vui vẻ, thỉnh thoảng những lời hát “người ơi người ở đừng về…” của các liền chị quan họ lại cất lên ngọt ngào, tình tứ. Còn tôi, (buông một tiếng thở dài) với bản tính nhút nhát của mình, tôi vẫn tác chiến một mình. Có khi một vài cô gái đi qua cười khúc khích làm mặt tôi chín đỏ. Đến gần cuối buổi, tôi đang gấp rút để hoàn thành phần việc của mình, thì giật thót khi có tiếng con gái gọi bên cạnh:
          - Anh bộ đội ơi! Cho em làm cùng với!
          - Ơ!... ơ!... Cô… cô cứ tự nhiên!
          Thấy tôi luống cuống như gà mắc tóc, cô gái đưa tay lên che miệng cười và buông một câu hỏi có tính hình sự, làm lưng tôi nóng ran:
          - Em thấy anh cặm cụi làm từ sáng đến giờ, sao anh không làm cùng các bạn cho vui?
          “Ây chà! Thì ra cô nàng đã theo dõi mình từ sáng rồi cơ đấy”, tôi nghĩ vậy, nhưng vẫn không đủ tự tin để giành lấy thế chủ động, mà luôn luôn bị động, trả lời thì vu vơ theo kiểu “con nhện giăng mùng”. Nhưng cũng qua đó, tôi biết được nàng tên là Hoa, là người địa phương, hiện đang học năm thứ nhất trường Đại học sư phạm I, Hà Nội. Do đang nghỉ ôn thi nên nàng về quê và cùng đi lao động với anh chị em trong làng.  
          Các đồng chí ạ!
          Với một anh chàng nhát gái như tôi, thì cứ nghĩ rằng kết thúc buổi sáng hôm đó là xong. Ấy vậy mà không đơn giản như tôi nghĩ. Trong đầu tôi luôn lởn vởn hình bóng của nàng. Với dáng người thanh tú, khuôn mặt trái xoan, đôi mắt to đen lay láy lúc nào cũng như muốn cười, làm con tim tôi đập rộn ràng như trống hội. Vậy là, tôi đã bị mũi tên của nữ thần tình yêu khuất phục và tôi… bắt đầu tương tư.       
          Cũng may, đợt dân vận chưa kết thúc và tôi không mấy khó khăn để biết thêm thông tin về nàng, kể cả địa chỉ ở trường, số điện thoại... Nhưng với bản tính cố hữu của mình, tôi không gặp nàng một lần nào nữa. Mãi sau này, khi đã về trường để tiếp tục việc học tập, tôi mới dám viết thư cho nàng. Những cánh thư qua lại đã làm cho chúng tôi ngày một hiểu nhau hơn và tình cảm cũng lớn dần theo năm tháng. Nhưng đòn quyết định cuối cùng (đấy là tỏ tình ấy mà) thì tôi vẫn chưa làm được và đang phục sẵn chờ cơ hội.
          Một hôm, sinh hoạt chi đoàn nghe bí thư triển khai chương trình hành động trong tháng.
          - Tháng này, ngoài nhiệm vụ trọng tâm học tập và rèn luyện, chi đoàn còn tập trung tổ chức diễn đàn thanh niên với chủ đề “tình yêu của lính thời bình” có chi đoàn thanh niên làng Đông Xá tham gia.
          Bí thư chi đoàn còn mở ngoặc thêm “đồng chí nào có bạn gái, người yêu thì phải mời vào để cùng giao lưu, truyền đạt kinh nghiệm cho anh em…”. Nói rồi bí thư còn liếc mắt nhìn tôi một cách bí ẩn… Lúc này, trong đầu tôi hiện lên hình ảnh của Hoa và lời tỏ tình chưa dám ngỏ cùng em. Tôi gọi điện và thông báo cho em biết kế hoạch và may sao Hoa nhận lời tham gia diễn đàn cùng với đơn vị.
          Khi buổi diễn đàn đang ở độ cao trào, với nhiều ý kiến tranh luận sôi nổi, đặc biệt là ý kiến của Hoa, thì bí thư chi đoàn – cũng là người dẫn chương trình hôm đó, gọi tôi lên để phỏng vấn cả tôi và Hoa.
          - Bạn Hoa đã nói rất hay về tình yêu, niềm tin, niềm khát khao, tự hào của những người yêu lính và vợ lính. Còn đồng chí, đồng chí nghĩ như thế nào?
          Cả hội trường đang “nín thở” chờ câu trả lời của tôi, thì tôi lấy hết can đảm, quay sang nắm tay và nhìn sâu vào đôi mắt của em. Rồi đọc những câu thơ tình tứ của Nguyễn Trọng Tạo:

“Em ơi em, em trong trắng vô tư
Nếu em đã đem lòng yêu người lính
Giờ tan ca đừng mong người yêu đón
Ngước sao trời hãy tin đấy là anh!

Nếu em là vợ lính, dẫu thời bình
Hãy xem bài cho con sau mỗi lần tan học
Con khó bảo đừng một mình ngồi khóc
Đừng đợi anh xách nước thổi cơm chiều”

          Khi tôi vừa kết thúc mắt Hoa cũng đã ngấn lệ, tôi ghét sát tai em và nói nhỏ, đủ cho con tim nàng nghe thấy “Hoa ơi! Anh yêu em!”. Kết thúc buổi diễn đàn hôm ấy, trước khi ra về Hoa đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ với những dòng chữ viết vội: “Chàng ngốc! Em chờ câu nói đó từ lâu rồi, vợ lính dẫu vất vả nhưng em vẫn nguyện làm một hậu phương vững chắc cho anh. Em yêu anh nhiều lắm!”./. 
         
NGUYỄN ANH SƠN

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

LỚP HỌC TIẾNG DÂN TỘC CẤP TỐC

                                                                  Bài phát trên Chương trình Phát thanh Quân đội

         Các đồng chí ạ! Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; mỗi khi có dịp được về với nhân dân là như về với chính những người thân yêu trong gia đình của mình. Vì vậy, mà những kỷ niệm với nhân dân bao giờ cũng là những kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời quân ngũ của mỗi người. Tôi cũng vậy các đồng chí ạ!
          Năm 2002, đội dân vận của Lữ đoàn 234 – Quân đoàn 3 do tôi làm đội trưởng đến công tác tại xã vùng ba xã Bờ Ngoong – huyện Chư Sê – tỉnh Gia Lai. Nhiệm vụ của chúng tôi là tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số không đi theo cái gọi là “Tin lành đề-ga” và không nghe kẻ xấu xúi dục, kích động gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Giúp nhân dân thực hiện nếp sống ăn, ở hợp vệ sinh; canh tác khoa học và xóa đói giảm nghèo. v.v…
          Đội công tác của chúng tôi, ngoài tôi ra còn có 6 người khác và được chia làm 2 tổ (tổ 1 gồm có: Tuấn, Việt và Hưng do Tuấn làm tổ trưởng; tổ 2 gồm: Mạnh, Xuân và Hải do Mạnh làm tổ trưởng; anh em đều là chiến sĩ năm thứ 2 đã được huấn luyện rất cơ bản và đều có quê ở Quảng Nam). Công việc chính của chúng tôi là hàng ngày phải đi đến từng gia đình để tuyên truyền, vận động và giúp đỡ nhân dân.
          Kế hoạch “dân vận” được tôi chuẩn bị rất chu đáo, cụ thể, chi tiết cho từng ngày, từng nội dung công việc và phân công trách nhiệm đến từng đồng chí. Nhưng những ngày đầu, sau mỗi lần về các tổ đều lắc đầu ngao ngán.
           Tuấn tổ trưởng tổ 1 sau những giây phút đăm chiều, rồi thở dài nói:   
          - Khó quá đội trưởng ạ! Mình nói đồng bào không nghe được, đến đâu bọn em cũng chỉ nhận được một nụ cười gượng và câu cửa miệng “I-cờ-bất” (có nghĩa là “không biết” – Theo tiếng Ba-na). Mạnh tổ trưởng tổ 2 có vẻ bức xúc hơn:
          - Thế còn đỡ, chứ tệ hại hơn nữa là đồng bào luôn né tránh, không muốn tiếp xúc với bộ đội. Thấy mình, đồng bào cứ tránh… như là tránh tà ấy... Thế này thì… chắc anh em mình phải cuốn gói thôi, chứ “dân vận, dân vẻo” gì nữa đội trưởng!   
          Sau thất bại đầu tiên, tôi đã tổ chức rút kinh nghiệm và chấn an tư tưởng anh em:  
          - Các đồng chí không được buông xuôi. Các đồng chí có cảm nhận được, đồng bào ở đây rất chịu thương, chịu khó. Không bao giờ có chuyện nhân dân xa lánh bộ đội, vấn đề là chúng ta chưa tìm ra được chìa khóa để mở tấm lòng họ mà thôi.
          Đêm hôm đó, tôi không sao chợp mắt được, những lời động viên, giao nhiệm vụ của Chính ủy Lữ đoàn trước khi chúng tôi lên đường vẫn còn văng vẳng bên tai: “Các đồng chí là những cán bộ, chiến sĩ ưu tú, được Thường vụ Đảng ủy Lữ đoàn lựa chọn để thực hiện nhiệm vụ đội quân công tác. Tôi tin tưởng rằng các đồng chí sẽ khắc phục được mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng với truyền thống của đơn vị Anh hùng “Có lệnh là đi, có địch là đánh, đã đánh là thắng”.
          Trăng thượng tuần lên cao, ánh trăng hòa quyện với sương đêm đã phủ lên núi rừng Tây Nguyên một dải lụa trắng khổng lồ, hiền hòa, êm đềm. Tiếng đàn Tơ-rưng dìu dặt đưa bước chân tôi đến dưới nhà Rông lúc nào không hay. Già làng Đinh Yêng ngồi tư lự ở đó từ lúc nào, hai mắt nhìn xa xăm. Tôi cất tiếng chào:
           - Con chào già! Sao khuya rồi mà già vẫn không về đi ngủ?
          - Ô! Bộ đội đấy ạ! Già không ngủ được, cái bụng bà con làng Jơ-ri chưa yên mà… Bộ đội ngồi xuống đây!… Ngồi đây!... uống với già một chén rượu.
          - Vâng! Con cảm ơn già!
          - Thế nào hả? Về với đồng bào có ưng cái bụng không? Có vất vả không? 
          - Dạ không ạ! Nhưng!… nhưng!...
          - Sao vậy? Có chuyện gì hả? Nói cho Già nghe thử xem?      
          - Dạ thưa… già! Chuyện là…
          Tôi đem toàn bộ chuyện của đội dân vận tâm sự với già làng Đinh Yêng. Sau khi vuốt chòm râu bạc phơ hai mắt già sáng lên và cười nói:
          - Ô!... Già hiểu rồi!... Đồng bào mình như con nai, con hoãng trên rừng, quanh năm lên rẫy, nó chưa quen tiếp xúc với người kinh mà. Bộ đội muốn nói cho đồng bào nghe, thì phải nói bằng tiếng đồng bào cơ. Tiếng kinh bọn mình không thạo mà, nói chuyện mắc cỡ lắm… mắc cỡ lắm…
          - Vâng! Đúng rồi, con cảm ơn già! Con… con sẽ làm ngay.
         Ngay hôm sau, khi đã trao đổi kỹ và thống nhất với già làng, thôn trưởng; lớp học cấp tóc tiếng Ba-na cho anh em trong đội dân vận được mở. Mà những giáo viên ban đầu không ai khác, đó chính là già làng và thôn trưởng làng Jơ-ri. “Tiếng lành đồn xa”, khi mà cái tin bộ đội học tiếng Ba-na đi khắp làng, thì bà con cứ thế kéo đến chật ních cả nhà chúng tôi đang ở. Phần vì “tò mò”…, phần vì thấy “bộ đội Cụ Hồ sao mà gần gũi, dễ mến…” như lời nhận xét của các Mị.
           Lúc này thì… giáo viên không chỉ có già làng và thôn trưởng, mà rất đông bà con trong làng (những người được coi là thạo tiếng kinh nhất); đặc biệt là có cả những cô gái Ba-na xinh đẹp, làm cho lớp học sôi nổi và hiệu quả hẳn lên. Ngoài học cách giao tiếp, sinh hoạt hàng ngày… thì những chú lính vốn “chưa biết yêu là gì” còn bắt các “cô giáo” dạy những câu ngỏ lời, tỏ tình bằng tiếng Ba-na.
Sau khi anh em cơ bản giao tiếp được bằng tiếng Ba-na. Chúng tôi đặt ra phương châm tiếp theo là: Vừa dân vận vừa học tiếng đồng bào, học ngay cả những gia đình mình đến dân vận, những người mình tiếp xúc. Từ đó đồng bào không chỉ có nghe và làm theo chúng tôi nói mà còn tin tưởng, hòa đồng với bộ đội. Không còn cảm giác mặc cảm, tự ti như lúc đầu.
Các đồng chí ạ! Đợt dân vận đó chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Ủy ban nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai và Quân đoàn tặng Bằng khen. Và cũng từ đó trong toàn Lữ đoàn chúng tôi nói riêng và Quân đoàn nói chung, dấy lên một phong trào học tiếng dân tộc và thực hiện 4 cùng với nhân dân: “cùng ăn, cùng ở, cùng làm và cùng nói tiếng đồng bào”./.
NGUYỄN ANH SƠN

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

ĐỒNG ĐỘI TÔI!

                                                                Bài phát trên Chương trình Phát thanh Quân đội

          Các đồng chí ạ! Cứ mỗi năm đến mùa tòng quân, thấy thanh niên trên cả nước hăm hở lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, lòng tôi lại xôi xao với bao kỷ niệm của những ngày làm lính tân binh. Người ta nói “ngô nghê binh nhì” quả là không sai; nhưng những bài học đầu tiên ấy, đã để lại trong tôi những dấu ấn không thể phai mờ trong cuộc đời quân ngũ; đặc biệt là tình đồng chí, đồng đội.
          Năm đó tôi nhập ngũ cùng với rất nhiều thanh niên, trai tráng ở các vùng quê khác nhau, nhưng ngẫu nhiên làm sao khi biên chế về đơn vị huấn luyện, tôi lại được ở cùng với tiểu đội được mệnh danh là “Tiểu đội G7”. Là tiểu đội tập hợp những người có “máu mặt” nhất là về các khoản tài trợ không hoàn lại (ODA). Chỉ cần điểm mặt một số thành viên thôi là đủ để thấy cái biệt danh “Tiểu đội G7” của chúng tôi không phải là “hữu danh vô thực”.     
Cậu Tiến có bố mẹ đều làm cán bộ huyện, trước khi nhập ngũ được mệnh danh là “công tử phố huyện”, con “nhà mặt phố, bố làm to”. Cậu Toản xét về chỉ số “túy ánh bạc” thì không phải nói, vì bố mẹ cậu ấy có hẳn cả một cửa  hàng buôn bán vật liệu xây dựng lớn nhất thị trấn, nên cái khoản “Y-ê-nờ-yên, tờ-yên-tiên-huyền-tiền” lúc nào cũng rủng rỉnh. Cậu Long cũng không kém cạnh, vì có hai anh trai đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản. Còn nhàng nhàng như tôi, cũng được đây. Không dấu gì các đồng chí! Tôi là con trai độc nhất của một gia đình có ba chị em, bố tôi không phải là “quan to” nhưng cũng là cán bộ xã; mẹ là giáo viên dạy cấp ba, nên tôi cũng được cưng chiều như một công tử, và đương nhiên mỗi khi muốn có khoản tài trợ ODA thì chỉ cần nhấn thêm mấy lời “kêu nghèo, kể khổ” thật  lâm ly sau mỗi lá thư hay cuộc điện thoại cho bố mẹ, thì ngay lập tức, 3 đến 4 ngày sau tôi có giấy lĩnh tiền... 
Chính vì thế mà mặt công tác hậu cầu, đời sống của tiểu đội tôi lúc nào cũng hoành tráng, khiến các tiểu đội khác phải kiêng nể. Và để xứng tầm với nói, tiểu đội tôi đã bầu thêm một tiểu đội phó phụ trách công tác hậu cần - đời sống và tôi là người được tín nhiệm, vì có lẽ tôi là người xông xáo và có nhiều “sáng kiến” nhất trong việc tổ chức các buổi liên hoan, sinh nhật, bồi dưỡng sau mỗi ngày huấn luyện... cho anh em.
Nhưng!... nói thì nói vậy thôi, chứ trong thực hiện các chiến lược của “Tiểu đội G7” chúng tôi không phải không có rào cản. Cái rào cản lớn nhất là cậu Mạnh. Ây!(thở dài)... cả tiểu đội chúng tôi không ai biết hoàn cảnh gia đình cậu ta như thế nào, vì Mạnh là người ít nói, lúc nào cũng trầm tư, đăm chiêu, khó gần. Tôi là người nằm cạnh giường của Mạnh cũng không biết thêm được thông tin gì, vì cậu ta luôn “bế quan, tỏa cảng”. Chỉ mỗi lần đóng tiền để “liên hoan”, “bồi dưỡng” hay làm bất cứ việc gì khác là cậu ta lại phản đối. Nên chúng tôi coi Mạnh như là kẻ “kít sắt”, bủn xỉn, không sống “mình vì mọi người”. Vì vậy, mỗi lần ra quyết nghị chúng tôi luôn phải lấy sức mạnh tập thể “thiểu số phục tùng đa số” để buộc cậu ta phải tuân theo.
Hôm đó, trong buổi sinh hoạt tiểu đội tôi đề nghị:
- Tuần tới chúng ta có sinh nhật đồng chí Long. Tôi đề nghị tiểu đội phải tổ chức một buổi sinh nhật hoành tráng.
Cả tiểu đội đồng thanh ủng hộ ý kiến của tôi “Ừ! Đúng đấy! Chúng ta phải tổ chức thật hoành tráng...” Cậu Toản còn khẳng định thêm:
- Có lẽ anh em mình may mắn lắm, cũng chỉ được một cái sinh nhật trong quân đội thôi. Vì vậy, để ghi lại dấu ấn này tôi đề nghị chúng ta không chỉ có liên hoan mà còn phải có quà tặng cho nhân vật chính, có âm nhạc và nếu... nếu thiết kế được các bóng hồng nữa thì càng tốt... Và để có kinh phí thì tôi đề nghị, mỗi đồng chí đóng góp một phần ba phụ cấp binh nhì. Được không nào?  
Khi cả tiểu đội cùng vỗ tay tán dương ý kiến của Toản. Thì cậu Mạnh giơ tay xin có ý kiến:
- Tôi có ý kiến! Báo cáo với các đồng chí! Tổ chức sinh nhật là một việc làm rất tốt, nhưng chi đoàn chúng ta cũng đã có kế hoạch tổ chức sinh nhật đồng đội cho những ai sinh trong tháng này vào tối thứ sáu tuần tới. Vì vậy, theo tôi tiểu đội chúng ta không nên tổ chức sinh nhật riêng, vừa tốn kém, vừa tự tách mình ra khỏi tập thể...
 Như thường lệ, ý kiến của Mạnh được “bảo lưu” nhưng quyết định vẫn theo đa số, chúng tôi vẫn lên kế hoạch tổ chức sinh nhật cho cậu Long. Sinh hoạt tiểu đội xong tôi phấn khởi và hả hê trong lòng vì đã giành thắng lợi hoàn toàn; còn cho được “Ông Mạnh kít sắt” một bài học. Đã vậy, tôi còn dự định sẽ tiếp tục đưa ra “sáng kiến” để bắt Mạnh phải đóng góp theo. Còn Mạnh thì... khuôn mặt nặng trịch và “buồn như đưa đám”. Tôi nghĩ chắc “Cu cậu đang xót tiền đây....”.
Đêm hôm đó, Mạnh không ngủ được, cứ hết ngồi rồi lại nằm, đi ra rồi lại đi vào và cứ cầm lấy quển sổ như đang đọc cái gì đó. Tôi thì như “mở cờ” trong bụng và đi vào giấc ngủ của một kẻ đắc thắng. Cho đến phiên gác lúc 3 giờ sáng, đồng đội đánh thức tôi dậy để làm nhiệm vụ, thì tôi sực nhớ đến hành động lén lút của Mạnh tối hôm qua. Và vì tính tò mò, hiến thắng tôi muốn xem Mạnh đang đọc cái gì mà không ngủ được. Tôi lấy cuốn sổ đầu giường Mạnh ra xem và trong đó có một bức thư, mà lúc đầu tôi nghĩ là thư của người yêu Mạnh, nhưng khi nhìn kỹ thì mới thấy nét bút của một em gái chừng học lớp 5, lớp 6 gì đấy. Và đó là thư của em gái Mạnh. Tôi đọc và không thể tin vào mắt mình nữa, hai tay tôi run bần bật, con mắt đọng nước cay xè. Trong thư có đoạn viết: “Anh Mạnh ơi! Bệnh của mẹ đã đỡ nhiều rồi, cũng nhờ có các cô, các chú trong Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh xã giúp đỡ mà mẹ mới có tiền mua thuốc. Còn số tiền tháng trước anh gửi về cho em để đóng học phí và mua một bộ quần áo mới đi học, nhưng mẹ ốm nên em không mua áo quần nữa; em để dành mua đồ ăn bồi dưỡng cho mẹ chóng khỏi anh ạ. Khi nào anh có tiền, anh gửi về em mua sau...”     
Các đồng chí a! Đến đây thì mọi việc đã rõ, Mạnh không phải “kít sắt”, keo kiệt nhưng chúng tôi nghĩ, mà Mạnh không tán đồng với những việc làm vô bổ của chúng tôi vì còn tiết kiệm những đồng tiền phụ cấp ít ỏi của binh nhì để gửi về cho mẹ chữ bệnh và cho em đi học. Tôi thấy mình nhỏ bé và tâm thường vô cùng so với Mạnh. Tôi tự trách mình đã vô tâm với đồng chí đồng đội.
Sáng ra cả tôi và Mạnh đều có con mắt đỏ hoe, nhưng chúng tôi nhìn nhau bằng ánh mắt trìu mến, đồng cảm, chia sẻ của những người đồng chí đồng đội, sau khi tôi đề nghị hội ý tiểu đội để quyết định bãi bỏ các khoản chi tiêu không cần thiết và chuyển toàn bộ số tiền dự kiến sinh nhật Long cho Mạnh để gửi về gia đình giúp mẹ và em./.

NGUYỄN ANH SƠN