Trang chủ

Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÓNG SỰ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÓNG SỰ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Những quả "bom giấy"

(GLO)- Tôi gặp Đại tá Phạm Chào-nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 3 tại tư gia của ông nằm sâu trong phố Ban Bội Châu (TP. Pleiku). Mặc dù tôi đến sớm hơn lịch hẹn 30 phút nhưng ông đã áo quần chỉnh tề ngồi đợi. Với tác phong của một người lính hơn 40 năm quân ngũ, 15 năm ở chiến trường, tham gia hàng trăm trận đánh lớn nhỏ khác nhau với bốn lần bị thương, ông đã không để cho tôi bối rối khi lần đầu tiếp xúc. Sau cái bắt tay ấm nồng ông nói:

- Cậu muốn gì ở ông già này thì nói đi nào?
- Dạ! Cháu đã đọc và đã nghe kể nhiều về chiến thắng của quân ta ở Buôn Ma Thuột  nhưng cháu vẫn thấy chưa đủ. Vì có lẽ mỗi người lính trên chiến hào có sự trải nghiệm, cảm xúc riêng của họ. Chính bố cháu-người lính trực tiếp cầm súng đánh vào Buôn Ma Thuột cũng đã nói với cháu rằng: “Mỗi người lính bước qua cuộc chiến là một kho sử vàng”.
 
Đại tá Phạm Chào (bên phải) đang trao đổi với tác giả.
Đại tá Phạm Chào (bên phải) đang trao đổi với tác giả.
Dường như tôi đã điểm trúng ký ức của ông, sau một phút tư lự ông nói:

- Cậu nói đúng! Mặc dù thế hệ chúng tôi cầm súng ra trận không có khát vọng gì khác là mong ngày toàn thắng, Nam Bắc sum họp, nhưng trong mỗi trận đánh, mỗi người lính lại có những cảm xúc riêng. Cậu muốn biết cảm xúc của tôi về chiến thắng Buôn Ma Thuột tôi có thể nói ngay. Đó là những quả “bom giấy”. 

Thấy tôi băn khoăn, không hiểu. Ông chậm rãi kể:

Khi đó là Trưởng tiểu ban Tuyên huấn Sư đoàn 10 được chỉ định làm Chính trị viên Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 66, Sư đoàn 10, Mặt trận Tây Nguyên. Trung đoàn chúng tôi cùng với Trung đoàn 149, Sư đoàn 316 được giao nhiệm vụ tiến công căn cứ Trung đoàn 53 ngụy. Đập tan âm mưu co cụm, tử thủ các căn cứ còn lại sau thất thủ Buôn Ma Thuột chờ quân tăng viện tới, làm bàn đạp phản kích tái chiếm những khu vực đã mất. Căn cứ này nằm về Đông Nam Sân bay Hòa Bình, cách trung tâm thị xã Buôn Ma Thuột khoảng 10 km, được thiết bị phòng ngự rất vững chắc. Quanh căn cứ có 5 đến 7 lớp rào kẽm gai, xen kẽ giữa các lớp rào là bãi mìn. Lớp tường đất bao quanh căn cứ đắp cao và dày, các lô cốt và các ụ súng cũng được bố trí ngay trong tường đất hướng mũi súng ra ngoài. Hai hầm chỉ huy của Trung đoàn trưởng bằng bê tông xây chìm xuống đất. Trong căn cứ lúc này có Trung đoàn 53 (thiếu), 1 chi đội M113, do viên Trung tá Võ Ân-Trung đoàn trưởng chỉ huy. Điều đáng nói là quân địch rất ngoan cố, chống trả quyết liệt, vì đây là hy vọng cuối cùng để chúng tái chiếm Buôn Ma Thuột, cứu Tây Nguyên.

Lúc 17 giờ 35 phút, ngày 16-3-1975, trên hai hướng của Trung đoàn 66, Sư đoàn 10 là Tiểu đoàn 7 (hướng chủ yếu) và Tiểu đoàn 9 (hướng thứ yếu) thực hành mở cửa đánh chiếm đầu cầu, nhưng địch dùng đại liên, súng máy 12,7 ly ngăn cản làm cho Tiểu đoàn 7 bị thương vong nhiều và không phát triển chiến đấu được. Trên hướng Tiểu đoàn tôi triển khai đội hình thuận lợi hơn nhưng cũng phải mất cả đêm mới mở cửa đánh chiếm đầu cầu thành công. Đến khoảng 7 giờ, ngày 17-3, một tốp máy bay A37 của địch vào ném bom. Nghe một tiếng rít khô khốc, tôi chỉ kịp hô anh em nằm xuống và ngước nhìn từng chùm bom tròn như những chiếc lu treo lơ lửng trên đầu. Tôi thoáng nghĩ trận bom này sẽ trúng đội hình của Tiểu đoàn và thương vong khó mà lường trước được. Nhưng điều thần kỳ đã xảy ra, chúng tôi chỉ nghe những tiếng nổ lốp đốp trên đầu và giấy bay tung tóe khắp khu vực cửa mở. Thì ra đó là những quả “bom giấy”, mà mãi sau này tôi mới biết, nó là bom do những người công nhân Mỹ yêu chuộng hòa bình sản xuất. Vì không muốn nhà cầm quyền Mỹ mang những quả bom do họ sản xuất đi gieo rắc cái chết cho nhân loại và người dân Việt Nam.  

“Bom giấy” đã giảm bớt sự thương vong của chúng tôi và giúp chúng tôi mở cửa đánh chiếm đầu cầu thành công. Đây cũng là căn cứ quan trọng để chỉ huy Trung đoàn 66 có một quyết định táo bạo, sáng suốt là chuyển hướng tiến công chủ yếu từ Tiểu đoàn 7 sang Tiểu đoàn 9 nhằm tăng thêm sức mạnh đột phá, thực hiện bằng được chủ trương của Bộ Tư lệnh chiến dịch là nhanh chóng đánh chiếm căn cứ 53. Như được tiếp thêm sức mạnh, sáng 17-3, chúng tôi đánh thẳng vào sở chỉ huy Trung đoàn 53, lần lượt đánh chiếm các mục tiêu khu nhà xe, nhà kho, câu lạc bộ sĩ quan, hầm chỉ huy trung đoàn. Đến 8 giờ thì đã đánh chiếm toàn bộ sở chỉ huy Trung đoàn 53, căn cứ mạnh nhất còn lại của địch ở Buôn Ma Thuột, làm cho địch tan rã, hoang mang cực độ, tạo đà phát triển tiến công nhanh chóng của quân ta xuống các tỉnh ven biển miền Trung, truy quét địch trên đường số 7.

Sau trận đánh căn cứ 53, tôi còn chiến đấu nhiều trận ở khắp các chiến trường, nhưng dù ở đâu tôi cũng luôn ghi nhớ: Cuộc chiến của chúng ta giành thắng lợi không chỉ có sự mưu trí, dũng cảm, sự hy sinh to lớn của nhân dân và những người lính trên chiến trường. Mà chiến thắng đó còn có sự giúp sức rất quý báu của giai cấp công nhân và nhân dân lao động yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Nó khẳng định chân lý và sự chính nghĩa của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Nguyễn Anh Sơn

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

Bài dự thi Cuộc thi báo chí “ Bộ đội Cụ Hồ - Bộ đội của dân”: Những chiến công thời bình

(Bài đạt giải khuyến khích cuộc thi báo chí "Bộ đội Cụ Hồ - Bộ đội của dân" năm 2015)
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/cuoc-thi-bao-chi-bo-doi-cu-ho-bo-doi-cua-dan/nhung-chien-cong-thoi-binh/326144.html
QĐND - Thứ bảy, 11/10/2014 | 16:40 GMT+7
QĐND Online - Đất nước hòa bình, song những người lính Cụ Hồ vẫn “ra trận” vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Trong những năm qua, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 luôn được nhân dân miền Trung - Tây Nguyên gửi trọn niềm tin, nhất là trong những tình huống thiên tai, thảm họa hiểm nguy…
Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 10 cùng dân quân địa phương giúp dân di dời nhà khỏi vùng lòng hồ thủy điện Đăk Đrinh.
“Trị thủy, phục hỏa” cứu dân
Địa bàn miền Trung - Tây Nguyên chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu và ngày càng xuất hiện nhiều hiện tượng khí hậu cực đoan, bất thường. Có những thời điểm mưa dồn dập, lũ dâng cao, lốc xoáy kinh hoàng gây nhiều thiệt hại về người và tài sản cho nhân dân. Có lúc hạn hán kéo dài, nguồn nước cạn kiệt, nguy cơ cháy rừng luôn rình rập. Ở vùng sâu, vùng xa thì sự thiệt hại do thiên tai gây ra đối với người dân lại càng lớn.
Có lẽ người dân miền Trung - Tây Nguyên khó quên trận đại hồng thủy năm 2009 do bão số 9 gây ra. Trong cơn nguy khốn, hơn 11.200 lượt cán bộ của Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Trường Quân sự, Lữ đoàn Công binh 7 (Quân đoàn 3)... đã vượt hàng trăm cây số trong mưa lũ về với người dân vùng lũ bốn tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Bình Định, Phú Yên, để cứu dân. Trong đợt cứu trợ này, quân đoàn đã huy động 311 chuyến ô tô, 28 xe cầu phà, hơn 2500 áo phao và hàng chục tấn xăng, dầu; vận chuyển hơn 30 tấn gạo, sửa chữa thu dọn nhà cho hơn 550 gia đình, nhiều trường học, bệnh viện; đào đắp hơn 600m3 đất, đá, cát sỏi; khắc phục 3 cầu do lũ đánh sập, trong đó bắc và duy trì cầu phao dài 90m, trọng tải 60 tấn ở Đắc Ruồng (tỉnh Kon Tum) bảo đảm giao thông thông suốt từ Tây Nguyên đi Quảng Ngãi.
Bộ đội Sư đoàn 320 giúp dân sơ tán khỏi vùng ngập lụt.
Kết thúc đợt giúp dân khắc phục hậu quả bão lụt, Quân đoàn 3 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì. 13 đơn vị trực thuộc và hàng chục cán bộ, chiến sĩ của binh đoàn được UBND các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Bình Định và Phú Yên tặng bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác giúp dân khắc phục hậu quả bão lụt.
Đầu mùa khô năm 2013, kiên quyết không để "giặc lửa" tấn công thiêu rụi những cánh rừng đầu nguồn, gần 1.000 cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Lữ đoàn Công binh 7, Tiểu đoàn 827 (Cục Hậu cần), Tiểu đoàn 29 (Bộ Tham mưu)... đã hành quân trong đêm, vượt qua nhiều khe suối, núi cao hiểm trở chiến đấu với giặc lửa, cứu hàng nghìn héc-ta rừng ở Tân Cảnh (Kon Tum), Bắc Biển Hồ và đỉnh Cổng trời Mang Yang (Gia Lai).
Đại úy Cấn Quang Thành, Chính trị viên Tiểu đoàn 827 - người trực tiếp chỉ huy dập lửa ở Bắc Biển Hồ (Gia Lai) - nhớ lại: "Chúng tôi nhận được lệnh và hành quân ngay trong đêm. Khi đến nơi cả một khu rừng đầu nguồn đang bốc cháy dữ dội. Trước những cột lửa cao vút, đỏ lừ, không một cán bộ, chiến sĩ nào lùi bước".
Lo toan, gánh vác việc khó với dân
Năm 2013, vào thời điểm 7 làng thuộc xã Đăk Nên (huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum) với 195 hộ dân chưa được di dời và có nguy cơ bị nhấn chìm trong “biển nước” của lòng hồ thủy điện Đăk Đrinh, sau khi có yêu cầu của chính quyền địa phương, hơn 200 cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 28 (Sư đoàn 10) đã hành quân về địa bàn. Trong gần một tháng, trung đoàn đã đóng góp hơn 5.000 lượt ngày công, tháo dỡ, bốc xếp và vận chuyện 127 ngôi nhà đến nơi ở mới; dựng mới hoàn chỉnh 98 ngôi nhà cho 98 hộ dân đến nơi ở mới ổn định, an toàn.
Năm 2012, khi tà đạo Hà Mòn diễn biến phức tạp tại xã Đăk Blà (TP Kon Tum, tỉnh Kon Tum), cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 28 đã thực hiện "cùng ăn, cùng ở, cùng làm", gần gũi tuyên truyền, vận động nhân dân. Nhờ đó, đến năm 2013, 100% đối tượng của địa phương đã từ bỏ tà đạo Hà Mòn trở về cuộc sống bình thường. Đồng chí Nguyễn Khắc Thời, Phó Chủ tịch UBND xã Đăk Blà (TP Kon Tum, tỉnh Kon Tum) khẳng định: "Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 28 đã cho chính quyền và nhân dân chúng tôi một điểm tựa. Điểm tựa của niềm tin và tinh thần vượt khó, quyết thắng".
Dù ở nơi đâu, làm bất cứ nhiệm vụ gì, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 luôn hướng về nhân dân. Khi chương trình "Xây dựng nông thôn mới" được triển khai ở Gia Lai, Sư đoàn 320 đã huy động hàng nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ nạo vét 2.100m kênh mương nội đồng, san đắp 200m đường liên thôn, phát quang 800m2 sân trường, tháo dỡ nhà kho mục nát tại xã Trà Đa (TP Pleiku, tỉnh Gia Lai); phối hợp với xã Biển Hồ (TP Pleiku, tỉnh Gia Lai) tổ chức ngày “Chủ nhật xanh” tổng dọn vệ sinh đường giao thông nông thôn, tham gia xây dựng khuôn viên khu sinh hoạt cộng đồng ở thôn Đồng Bằng và đổ 150m2 đường bê tông. Sư đoàn còn hỗ trợ 500kg gạo cho các cháu học sinh 2 trường bán trú trên địa bàn xã Ia Lang (huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai); hỗ trợ quỹ khuyến học và hoạt động hè xã Biển Hồ 10 triệu đồng... Các phong trào "Hũ gạo tình thương" của Trung đoàn 24 (Sư đoàn 10), "Tấm áo tặng đồng bào" của Lữ đoàn  Pháo binh 40, "Áo mới em đến trường" của Cục Hậu cần quân đoàn... đã tạo nền tảng xây dựng "thế trận lòng dân" bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
 Bài và ảnh: NGUYỄN ANH SƠN

Bài dự thi “Những tấm gương bình dị mà cao quý: “Học Bác là phải giúp dân hết đói nghèo…”

(Bài đạt giải khuyến khích cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý" do Báo Quân đội nhân dân tộc chức năm 2013)
QĐND - Thứ hai, 02/12/2013 | 15:51 GMT+7
QĐND - Tôi gặp chị Nguyễn Thị Mai Lan trong Hội nghị tuyên dương điển hình tiên tiến làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của tỉnh Kon Tum và rất ấn tượng với 3 mô hình làm theo Bác của Hội phụ nữ thị trấn Đăk Rve (huyện Kon Rẫy, Kon Tum) nơi chị làm Chủ tịch hội.
Day dứt khi người dân còn nghèo
Mặc dù là chủ nhân của ngôi nhà khang trang, đầy đủ tiện nghi, nhưng chị Mai Lan vẫn mang dáng dấp của một nông dân thuần phác. Chị ra mở cửa đón tôi khi đôi tay vẫn dính đầy cám lợn, chị cười hiền và giải thích: “Về đến nhà là phải tranh thủ ngay chú ạ!”. Tôi hiểu, một người mang sứ mệnh “vác tù và hàng tổng” như chị thì thời gian ở nhà quý lắm. Chả thế mà tôi hẹn cả tháng, chị mới “ưu tiên” dành cho một buổi sáng chủ nhật. Chưa đến 5 giờ, chị đã điện: “Chú xuống trong buổi sáng nhé, chiều chị phải vào làng để hướng dẫn đồng bào cách tăng gia, chăn nuôi…”.
Tôi chiêm ngưỡng ngôi nhà của chị: “Chị giàu thật đấy!”. Vậy nhưng chính điều đó đã “động” đến những ký ức của chị.
Chị Nguyễn Thị Mai Lan chăm sóc đàn lợn của gia đình.
Năm 1994, anh chị và cháu đầu lòng rời quê hương Phú Thọ vào lập nghiệp ở Tây Nguyên với hai bàn tay trắng. Lúc đó, Đăk Rve còn heo hút lắm, anh chị phải lên rừng lấy cây về dựng một căn nhà tạm, rồi phát rẫy, làm nương. “Khó có thể kể hết những nỗi cơ cực lúc đó chú ạ! Có củ sắn, củ khoai qua ngày là tốt lắm rồi. Lúc đó, nằm mơ chị cũng không dám nghĩ sẽ được như ngày hôm nay”- chị tâm sự.
Vậy mà, giờ đây, tôi được biết anh chị là chủ của hàng chục héc-ta điều, cà phê; đàn heo trong chuồng lúc nào cũng có hơn 30 con cả lợn nái và lợn thịt, thu nhập bình quân của gia đình mỗi năm hơn 200 triệu đồng. Nhưng điều làm tôi khâm phục người phụ nữ này là chị “muốn mọi người cũng được như mình”, từ nghèo vươn lên làm giàu. Và để thực hiện mục đích đó, khi kinh tế gia đình ổn định, năm 2000 chị bắt đầu tham gia công tác hội với cương vị Chi hội trưởng phụ nữ thôn.
Sau khi tốt nghiệp các lớp trung cấp phụ vận, trung cấp chính trị của Trường Chính trị tỉnh Kon Tum, năm 2006 chị làm hội phó, rồi hội trưởng Hội phụ nữ thị trấn Đăk Rve cho đến nay. Ước mơ giúp đồng bào thoát đói nghèo của chị càng được chắp cánh khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Chị tâm niệm: “Học Bác là phải giúp dân, làm cho dân hết đói, hết nghèo; còn một gia đình trong thị trấn bị đứt bữa là tôi còn day dứt, đau lòng lắm!”. Chị Đinh Ngọc Lan, người dân tộc Ka Dong ở thôn 8, thị trấn Đăk Rve xúc động khi nói về chị Mai Lan: “Không có Mai Lan và “hũ gạo tình thương” thì mẹ con mình thành “con ma đói rồi”. Mình biết ơn chị em trong Hội phụ nữ thị trấn và Mai Lan lắm”.
Những mô hình làm theo Bác
Ba mô hình làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của Hội phụ nữ thị trấn Đăk Rve có sức lan tỏa và cộng hưởng những tấm lòng nhân ái “lá lành đùm lá rách” trong cộng đồng dân cư, gồm: “Hũ gạo tình thương”, “Nuôi heo đất tiết kiệm”, “Nhóm phụ nữ giúp nhau sắm sửa vật dụng gia đình”, mà chị Nguyễn Thị Mai Lan là người khởi xướng, tuyên truyền, vận động, tổ chức cho các chi hội thực hiện. Đúng như chị Đinh Ngọc Lan nói: “Không kể hết được những việc làm nhân nghĩa của chị em thị trấn Đăk Rve mà chị Mai Lan là thủ lĩnh. Nhiều gia đình đã được động viên, được hỗ trợ thoát nghèo một cách bền vững, như gia đình chị Đinh Thị Vinh ở thôn 3, chị I'lớp ở thôn 6…”.
Được biết, thị trấn Đăk Rve có 1.364 hộ dân, với 5.304 nhân khẩu, trong đó, có 538 hộ dân tộc thiểu số (chiếm gần 40%). Hội Phụ nữ thị trấn Đăk Rve có 9 chi hội và 5 tổ nữ công trường học, với 678 hội viên. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, thậm chí có thôn với 65 hộ, thì có đến 51 hộ nghèo. Trong những năm qua, mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ người dân xóa đói, giảm nghèo, nhưng cuộc sống của nhiều người dân trên địa bàn thị trấn nói chung và hội viên phụ nữ nói riêng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là hội viên người dân tộc thiểu số.
Năm 2007, thấy nhiều gia đình chịu cảnh đói giáp hạt, thậm chí là một bát gạo nấu cháo qua ngày cũng không có, sau nhiều đêm thức trắng chị Mai Lan nhớ đến phong trào “Hũ gạo kháng chiến” do Bác Hồ phát động. Và mô hình “Hũ gạo tình thương” ra đời. Chị Mai Lan cho biết: “Lúc đầu, mô hình được triển khai tại Chi hội 8 và Chi hội 7. Vì hai chi hội này, 100% hội viên là nông dân, tỷ lệ hội viên người dân tộc thiểu số cao. Chi hội 7 có 100% hội viên là người dân tộc thiểu số, còn nhiều chị em thiếu đói”.
Cách làm của mô hình rất đơn giản, mỗi chị em trong chi hội mua một hũ nhựa và cứ mỗi bữa nấu ăn bớt lại một nắm gạo cho vào hũ. Định kỳ vào ngày 15 hằng tháng, chi hội họp để mở hũ. Số gạo tiết kiệm được sẽ giúp đỡ những hội viên phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong thôn, làng. Qua 4 năm thực hiện, số gạo chị em tiết kiệm được là hơn 600kg, đã giúp được 22 hộ gia đình khó khăn trong thôn, làng. Điều đáng quý hơn, khi thấy chị em phụ nữ tương thân, tương ái, góp gạo giúp nhau lúc hoạn nạn đã làm cho nhiều cán bộ, đảng viên, nhiều gia đình mang gạo đến góp cùng với các chi hội để giúp người nghèo.
Chị Hồ Thị Phụng, dân tộc Kor ở Chi hội 8, người đã nhận được gạo từ mô hình “Hũ gạo tình thương” xúc động nói: “Những hạt gạo lúc đói quý lắm, nó không chỉ giúp nhiều chị em qua cơn hoạn nạn, mà còn thắt chặt hơn tình làng, nghĩa xóm, tình đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo”.
Phần thưởng vô giá: Được dân mến, dân tin
Một điều rất thú vị khi tôi đến thị trấn Đăk Rve, đó là khi hỏi nhà chị Lan, người thì hỏi: “Chị Lan nào? Lan "hũ gạo tình thương" phải không?”; có người hỏi lại “Lan heo đất hả?”... Những danh hiệu người dân thị trấn Đăk Rve tặng chị đã nói lên tất cả. Đó là phần thưởng quý nhất, vì lòng dân đã ghi nhận những việc làm của chị, một cán bộ hội, một đảng viên vì dân. Điều này chúng tôi đã thấy, trong phòng khách nhà chị rộng hơn 20m2 chật kín chỗ vì để bằng khen, giấy khen, danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở. Đó là kết quả mà chị được Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam, UBND tỉnh Kon Tum, huyện Kon Rẫy và bà con nơi đây ghi nhận.
Chị Võ Thị Minh, Chi hội trưởng Chi hội phụ nữ thôn 8 không giấu được niềm cảm phục khi nói về cấp trên của mình: “Chị Lan là trụ cột của phong trào Hội phụ nữ thị trấn Đăk Rve; ở đâu khó khăn, đâu cần giúp đỡ là có chị”. Còn ông Võ Duy Ngọc, Bí thư Đảng ủy thị trấn Đăk Rve nhận xét với sự trân trọng: “Chị Lan xứng đáng là điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Các mô hình, phong trào hội phụ nữ do chị Lan khởi xướng, tổ chức và thực hiện có sức lan tỏa và lay động lòng người, làm cho người dân thị trấn tin yêu Hội phụ nữ, tin yêu cán bộ, đảng viên hơn”.

Bài và ảnh: NGUYỄN ANH SƠN

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012

Phóng sự: "Cơn lốc" văn hóa vỉa hè


          Nếu bạn đánh “trà đá chém gió” thì chỉ cần 34 giây, google sẽ cho bạn hơn một ngàn kết quả. Ở đó, có đủ muôn mặt vui buồn, dở khóc, dở cười của trà đá vỉa hè. Nhưng tôi vẫn thấy, dường như thiếu một cái gì đó dưới góc độ văn hóa, lối sống của sinh viên Hà Nội đang được hình thành từ vỉa hè. Và tôi quyết định làm một chuyến "vi hành", để cùng “trà đá chém gió" với sinh viên.
          Rời giảng đường… ra vỉa hè
          Điểm tôi dừng chân đầu tiên là cổng trường Đại học Thương mại và trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội. Lúc này khoảng 15 giờ, chưa tan trường, nhưng các quán trà đá đã đông nghịt các bạn trẻ. Mà qua câu chuyện của họ, tôi biết được đó là những sinh viên “bùng” tiết.
Các quán trà đá hết chỗ, sinh viên ngồi dưới lòng đường để "trà đá chém gió"
(Ảnh chụp trước trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội)
        - Học đách gì lắm? Ra trà đá chém gió đi.
       Bạn Nguyễn Quang Huấn, sinh viên Trường Đại học Thương mại ngồi cạnh tôi điện cho bạn như vậy. Tôi lân la hỏi chuyện:
         - Sao đang học mà cũng trà đá vậy em?
         - Quen rồi anh ạ! Một ngày mà không được vài cuốc trà đá chém gió thì thấy như thiếu một cái gì đó...
         Huấn nói rồi cười sảng khoái, khuôn mặt cậu ta giãn ra và được quấn lấy bởi một làn khói thuốc mờ đục. Tôi đứng dậy, móc ví trả tiền và kiếm cớ hỏi thăm bà chủ quán. Chị tên là Hằng, có thâm niên bán trà đá gần 8 năm ở đây vui vẻ tâm sự: "Trước đây, tôi lấy chợ làm nhà, chạy ngược chạy xuôi cũng không đủ ăn. Từ ngày, chuyển sang trà đá đỡ hơn hẳn chú ạ! Vốn ít, lại không lo bị ế. Sinh viên giờ thích trà đá lắm. Rời giảng đường là ra vỉa hè, chú không tin, chờ một lúc nữa mà xem..."  
          - Cho 3 ly trà đá chị ơi!
          - Vâng! Có ngay.
          Chị bỏ dở câu chuyện với tôi khi có khách vào. Bằng những thao tác thuần thục, chuyên nghiệp, chỉ trong nháy mắt đã có 3 ly trà đá cho khách. Nghe theo lời chị, tôi nán lại chờ cho sinh viên tan trường để "mục sở thị". Và giờ phút đó đã đến, như "ong vỡ tổ", nháo nhác cả một góc phố. Các quán trà đá không còn một chỗ trống, có toán thậm chí còn ngự tọa cả lòng đường.
          Văn hóa, lối sống vỉa hè được hình thành 
          Tôi tiếp tục hành trình của mình tại các cổng trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Bưu chính Viễn Thông, Đại học Hà Nội, Kiến Trúc, Bách khoa, Kinh tế, Cao đẳng Truyền hình...  vào các thời điểm khác nhau. Nhưng tôi nhận thấy, tất cả đều có một điểm chung: "trà đá chém gió" đã trở thành một nhu cầu thiết yếu trong giới sinh viên. Nếu như đó chỉ là một nhu cầu sinh hoạt bình thường thì không có gì đáng bàn, nhưng nó đã bắt đầu hình thành một lối sống, một nền tảng văn hóa và cách ứng xử... vỉa hè của sinh viên.

Giờ nghỉ, ngày nghỉ sinh viên không tham gia các hoạt động xã hội
hay học tập mà tụ tập "trà đá chém gió"
(Ảnh chụp trước cổng Trường Cao đẳng Truyền hình )

        Những mẩu chuyện, cách phát ngôn, lối ứng xử tôi thu được ở các quán trà đá đều "sặc mùi chợ búa" của "dân anh chị". Chứ không ai nghĩ đó là của những nam thanh, nữ tú có học thức, của những "người chủ tương lai của nước nhà".
         - Con "vợ" tao dính bầu rồi.
         - Thì phá đi cho đỡ phiền phức.
         - Nhưng to quá rồi, tao sợ...
         - Ôi dào! Sợ đách gì. Vợ chồng tao đi suốt.
         - Bọn mày ngu như cẩu, tao cho con "vợ" dùng miếng dán, nên an toàn tuyệt đối.
          Có hàng trăm câu chuyện đại loại như vậy ở trà đá vỉa hè. Nếu bạn thử ngồi giữa một quán trà đá và nhắm mắt lại, lắng tai nghe, bạn sẽ thấy không còn là "chém gió" thông thường. Có cả một cơn bão của âm thanh, của từ ngữ vỉa hè đổ sầm sập vào tai. Không phải chuyện tình dục thì là chuyện scandal của sao, chuyện ăn nhậu, thanh toán giữa các nhóm, các hội, chuyện "đánh thố", lô đề, chạy điểm... Ngôn ngữ thì "trăm hoa đua nở", không theo kiểu "sát thủ đầu mưng mủ", thì cũng nói tục, chửi thề rất "hồn nhiên".
          Khi mới đến Hà Nội, tôi sợ nhất là nạn kẹt xe, tắc đường. Nhưng giờ thì không hẳn thế, một nỗi sợ hãi khác cứ lớn dần và ám ảnh trong tôi. Tiếng "Đ.mẹ!" từ một cô gái có vóc dáng của một người mẫu với đôi môi xinh như hoa, đập vào tai tôi như một "cú đấm trời giáng", đẩy tôi ra đường. Phố Xuân Thủy giờ cao điểm người như nêm cối. Sự ô nhiễm khói bụi, âm thanh đã khiến Hà Nội oằn mình rồi, giờ còn ô nhiễm văn hóa nữa, khổ cho Hà Nội - Thủ đô ngàn năm văn hiến, thủ đô của hòa bình quá.

          Giấy rách phải giữ lấy lề

          "Cơn lốc" "trà đá chém gió" phát triển nhanh đến nỗi trên các mạng xã hội như Facebook, Youtube... có cả các "hội trà đá chém gió", "hội những người phát cuồng vì trà đá chém gió", "hội những người thích trà đá vỉa hè chém gió"... Tuy nhiên, không phải sinh viên nào cũng "yêu", cũng "phát cuồng" với "trà đá chém gió". Bạn Cát Thu Thảo, sinh viên Học viện Bưu chính Viễn thông tâm sự: "Phải thừa nhận rằng, văn hóa, lối sống vỉa hè xâm nhập vào học đường là một thực trạng rất đáng báo động. Những hệ lụy từ trà đá chém gió là có thật. Nhưng đó chỉ là những nhân tố ngoại cảnh, cái chính là mỗi sinh viên phải rèn luyện được bản lĩnh cho mình, có ý thức tự chủ để miễn dịch trước những cơn gió độc ấy". Còn bạn Nguyễn Minh Cường, sinh viên trường Cao đẳng Truyền hình thì chia sẻ: "Sinh viên tỉnh lẻ lên Hà Nội học phải đối mặt với rất nhiều cám dỗ, sự hào nhoáng của chốn phồn hoa. Trong khi đó, những sân chơi bổ ích cho sinh viên còn quá ít, có chăng thì cũng chưa thu hút được sinh viên. Vì vậy, nhiều bạn đã đốt thời gian vào những quán trà đá chém gió, những chuyện vô bổ và dẫn đến vi phạm các tệ nạn xã hội". 
          "Trà đá chém gió" của sinh viên không phải là chuyện bây giờ mới nói, tôi cũng nghĩ rằng, nếu đó chỉ là một ly nước giải khát bình dân thì hợp lẽ thôi. Vì sinh viên vốn là những người luôn khó khăn về kinh tế. Nhưng khi nó đã phát triển thành một trào lưu thì còn nhiều chuyện đáng bàn lắm. Một tuần cùng "trà đá chém gió" với sinh viên tâm trạng của tôi luôn xáo trộn, đan xen; vui thì ít, buồn thì nhiều. Nhưng điều làm tôi ám ảnh nhất có lẽ là văn hóa, lối sống vỉa hè đang từng ngày, từng giờ len lỏi vào giới học đường./.   
                                                                        NGUYỄN SƠN