Trang chủ

Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

Nhật ký chiến sĩ: Mối tình 300 lá thư

http://tuoitre.vn/tin/nhip-song-tre/20161006/nhat-ky-chien-si-moi-tinh-300-la-thu/1183525.html

06/10/2016 08:30 GMT+7
TTO - Một buổi chiều từ thao trường về tôi nhận được thư em. Tôi sung sướng bóc ra đọc. Đây là lá thư dài nhất trong gần 300 lá thư em viết cho tôi trước đó. Vẫn nét chữ thân quen nhưng đã nhạt nhòa lệ. 
Nhật ký chiến sĩ: Mối tình 300 lá thư
Chiến sĩ binh đoàn Tây Nguyên hành quân giữa mùa hoa cúc quỳ bung nở vàng rực cả núi rừng - Ảnh: Đ.P.
Tôi và em cùng sinh ra và lớn lên trên một miền quê yên ả. Mặc dù tôi lớn hơn em một tuổi nhưng chúng tôi học cùng một lớp, dưới một mái trường.
Tuổi thơ của chúng tôi gắn với những kỷ niệm nơi đồng quê lam lũ, nơi những người nông dân “một nắng hai sương”, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” nhưng cái đói, cái nghèo vẫn đeo đẳng quanh năm.
Tôi và em cùng sống và lớn lên trong cảnh một củ khoai, củ sắn cũng chia nhau. Tôi luôn là người bảo vệ em trước những trò chơi tinh nghịch của “bọn trẻ chăn trâu”, của lũ “học trò nhất quỷ nhì ma”. Chúng tôi luôn ở bên nhau với những bài học khó, những bận rộn của mùa thi, những lúc vui, lúc buồn.
Cũng chính vì thế, chúng tôi đã quá quen thuộc và hiểu biết về nhau. Em coi tôi như một người anh trai và không ngần ngại tâm sự với tôi những chuyện riêng tư, những tâm sự thầm kín của tuổi con gái mới lớn. 
Tốt nghiệp trung học phổ thông tôi thi đậu vào Học viện Chính trị - quân sự (nay là Trường đại học Chính trị) và em cũng nhập học ở Trường cao đẳng Sư phạm Hà Tĩnh.
Lần đầu tiên xa nhà, xa quê hương và xa em, tôi mới cảm nhận được nỗi nhớ em đến quay quắt và hiểu ra rằng tôi không thể sống thiếu em trong cuộc đời. Còn với em, những lá thư gửi cho tôi vẫn là một khoảng cách của một người em gái.
Trong lần nghỉ phép đầu tiên tôi về với bao dự định, nhưng khi gặp em lại không thực hiện được. Tôi không thể nói được với em những gì con tim tôi đang thổn thức, vì “trái tim tôi vốn hiền lành nhút nhát” và cả vì sự hồn nhiên trong em.
Thời gian cứ thế trôi đi, em trở thành cô giáo trường làng, còn tôi tốt nghiệp và nhận quyết định vào công tác ở Tây nguyên. Những ngày tháng trước khi tôi lên đường nhận nhiệm vụ, em ít nói, ít cười hơn và đôi mắt phảng phất những nét buồn xa xăm.
Hành trang lên đường của tôi là một balô con cóc và một món quà để tặng em trước lúc chia tay mà tôi đã chuẩn bị trong suốt năm năm làm lính sinh viên. Đó là ba cuốn nhật ký của tôi.
Tôi đã viết nó bằng những cảm xúc chân thực với những kỷ niệm vui buồn, vất vả, gian lao của người lính; những nỗi niềm thương nhớ em.
Những mong ước, khát vọng trong tương lai mà đáng lẽ tôi đã nói với em từ rất lâu rồi. Em tiễn tôi gần 20 cây số trên chiếc xe đạp cà tàng mà ngày nào chúng tôi vẫn chở nhau đi học. Trước lúc lên xe, tôi đã trao em món quà đó và dặn: “Em về đến nhà rồi mới được mở ra xem”.
Chỉ có vậy em đã òa khóc. “Anh đi mạnh giỏi. Khi nào nhận công tác xong, viết thư về liền nhé!”. Những ngày tháng sau đó tôi luôn thấp thỏm, chờ mong tin em.
Một buổi chiều từ thao trường về tôi nhận được thư em. Tôi sung sướng bóc ra đọc. Đây là lá thư dài nhất trong gần 300 lá thư em viết cho tôi trước đó. Vẫn nét chữ thân quen nhưng đã nhạt nhòa lệ.
Ngay đầu thư em đã viết: “Anh ác lắm! Em ghét anh! Em ghét anh nhiều lắm! Em đang khóc đây này! Anh là một kẻ ngốc! Việc gì anh cũng làm được, thế mà chỉ có một lời tỏ tình với một người con gái sao anh không dám nói, để rồi phải mang tâm sự trong suốt năm năm qua? Những ngày tháng bên anh là những ngày tháng em có niềm vui và hạnh phúc trọn vẹn nhất."
"Ở bên anh em luôn thấy cuộc sống thật bình yên và như được anh che chở. Anh là món quà quý giá nhất mà cuộc đời đã ban tặng cho em. Từ rất lâu em đã biết em không thể sống thiếu anh được”.
Tôi đã run lên vì sung sướng. Từ đây tôi chắc chắn đời mình đã có một bến đậu bình yên, một điểm tựa tình yêu, một hậu phương vững chắc để tôi yên tâm phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành.
ĐAN PHƯỢNG

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Nỗi nhớ khoai lang

QĐND - Chủ nhật, 27/05/2012 | 21:28 GMT+7
QĐND - Có lẽ không ở nơi đâu trên đất nước ta, khoai lang lại gắn bó mật thiết với con người và nặng nghĩa tình như ở quê tôi. Có thể nói, từ những vĩ nhân, danh nhân cho đến những con người rất đỗi bình dị cũng đều lớn lên từ khoai lang quê mẹ.
Lộc Hà (Hà Tĩnh) quê tôi là vùng có thổ nhưỡng đất pha cát, nên việc canh tác cây lúa không cho năng suất cao, thế nhưng khi trồng khoai, lạc, đỗ thì luôn nhiều củ, sai trái. Đặc biệt, khoai lang rất hợp với chất đất nơi đây. Chỉ cần cắm thân dây trên nền đất cát ở bất cứ khu vực nào là khoai lang sinh sôi, trưởng thành và cho củ rất to, nhiều tinh bột. Ngoại tôi vẫn bảo: Tại quê mình nghèo nên được trời thương "ban" cho loại củ đặc biệt có thể vừa làm lương thực thay gạo, vừa có thể chế biến thành đặc sản nổi tiếng gần xa...
Ảnh minh họa
Khoai lang được chế biến thành nhiều món, như: Khoai luộc, khoai xéo, khoai deo, chè khoai, bánh khoai, mít khoai... Tất nhiên, mỗi người thưởng thức khoai lang thường có khẩu vị riêng và thích cách chế biến khác nhau. Nhiều người vẫn cho rằng khoai luộc là món đệ nhất ngon, nhưng với tôi khoai lang nướng mới là món khoái khẩu. Tôi nhớ, ngày đó, cứ mỗi chiều mẹ nấu cơm, tôi lại lén vùi vào bếp tro một vài củ khoai lang. Thế là trước lúc ăn cơm, tôi luôn có món "đặc sản" lót dạ. Cứ thế, ăn khoai lang nướng trở thành thói quen của tôi tự lúc nào không biết. Cũng bởi thế mà khi đến bữa, tôi ăn rất ít cơm. Thấy tôi, cơm canh chiếu lệ, mẹ thường mắng yêu: Con ăn như vậy thì sau này lớn lên sẽ không đủ chiều cao, cân nặng để đi bộ đội đâu nhé!”. Lúc ấy, tôi chỉ biết tủm tỉm cười, lấy tay chùi miệng như thể sợ mẹ biết bí mật của riêng mình.
Giờ đây, sau bao nhiêu năm xa quê, gắn bó với nghiệp binh và đã trở thành sĩ quan quân đội, những tưởng cái cảm xúc ngày xưa chỉ còn đâu đó trong ký ức. Thế mà, chiều nay bất chợt giữa phố phường Hà Nội, cái mùi khen khét của khoai lang nướng lại giúp tôi tìm về với chính mình; tìm về với những gì thân thuộc mà thiêng liêng nhất của tuổi thơ tôi./.
NGUYỄN ANH SƠN

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

Bát nước chè xanh ấm tình xứ Nghệ

QĐND - Thứ năm, 23/07/2015 | 8:49 GMT+7
QĐND - Thuở nhỏ ở quê (Lộc Hà, Hà Tĩnh), tôi thường nghe câu hát: Ai ơi, cà xứ Nghệ càng mặn lại càng giòn/ Nước chè xanh xứ Nghệ càng chát lại càng ngon. Bao năm xa quê nhưng hương thơm và vị đậm của thức uống dân dã ấy vẫn hiện về nguyên vẹn trong ký ức tôi. Cây chè được trồng ở khắp nơi trên cả nước, nhưng chè xanh Hà Tĩnh vẫn được xem là thơm ngon, đậm đà riêng có. Có lẽ vì chúng được trồng ở nơi đất cằn sỏi đá, thời tiết khắc nghiệt. Mùa hè gió Lào bỏng rát, mùa đông giá lạnh thấu xương, nên trong mỗi thân cây dường như đã hội đủ vị chát đắng, mặn mòi đặc biệt của đất trời và mồ hôi của những người dân lam lũ.
Để có bát nước chè xanh thơm ngon, đậm đà thì phải chọn những cây chè mọc ở nơi có ánh mặt trời, không bị những tán cây lớn che khuất. Lá chè để nấu nước không được non hoặc già quá và cây chè càng mọc ở trên đồi cao thì nước càng ngon. Nước để nấu chè xanh cũng rất quan trọng. Những giếng nước nấu chè xanh ngon có mạch trong veo ở trên vùng đất cao, xa ao hồ, ruộng đồng. Củi nấu cũng góp phần tạo nên chất lượng của ấm chè xanh. Nấu chè xanh phải đun bằng củi gỗ thì nước mới thơm ngon. Cách chế biến chè cũng là cả một “nghệ thuật”. Chè đem về được rửa sạch, vò kỹ, cọng bẻ gãy và tước ra. Đun cho nước sôi rồi mới cho chè vào, sau đó tiếp tục đun cho nước sôi lại, đến khi có màu xanh thì nhấc xuống, múc ra uống là vừa, không được để sôi kỹ quá, nước sẽ có màu bầm tím và rất khó uống.
Uống nước chè xanh ở quê tôi không chỉ là một nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, mà còn là một tập tục văn hóa truyền thống đậm tình xứ Nghệ. Nước chè xanh gắn bó với mỗi đời người từ thuở thiếu thời cho đến lúc về cõi vĩnh hằng. Khi xa quê, tiếng "gọi chè" luôn thổn thức trong tôi, đưa tôi về sống với kỷ niệm êm đềm của những đêm hè nóng nực, trong xóm nhỏ, những người dân quê tôi lần lượt nấu nồi nước chè to rồi mời bà con làng xóm đến uống. Chẳng ai bảo ai, thân thiết và tự nguyện, lần lượt thay nhau. Những người phụ nữ xứ Nghệ tảo tần, lam lũ đến lượt nhà mình "gọi chè" thường cố gắng chuẩn bị thật chu đáo. Nồi nước chè lúc ấy không chỉ thể hiện sự hiếu khách, nghĩa tình, mà còn trở thành tiêu chí để đánh giá cái đảm đang, khéo léo của gia chủ, một niềm tự hào lặng lẽ, âm thầm mà mãnh liệt bao đời nay.
Trong cuộc sống hối hả, bộn bề nơi thị thành tráng lệ, thứ thức uống giản dị mang hồn vía của quê hương vẫn hiện hữu trong ký ức tôi, trong lao xao nắng gió tôi lại nghe: Để cùng hát khúc dân ca quê mình, để tôi sống giữa bao nhiêu ân tình, bao ân tình mộc mạc làng quê, trưa nắng hè, gọi nhau râm ran chè xanh...
NGUYỄN ANH SƠN

Đôi quang gánh của mẹ

QĐND - Thứ sáu, 09/01/2015 | 9:29 GMT+7
QĐND - Đầu đã hai thứ tóc, vậy mà sống mũi tôi vẫn cay xè khi anh bạn đột nhiên hỏi: “Giờ nghĩ về quê hương, anh nhớ gì nhất?”. Tôi không suy nghĩ mà nói  ngay: “Đôi quang gánh của mẹ”. Tôi cũng không thể lý giải được, mẹ lấy đâu ra sức mạnh mà chỉ có đôi quang gánh ấy, bà đã gánh cả gia đình tôi đi qua những đêm đông giá rét đến ngày hè nóng bỏng, những mùa lụt, giáp hạt đói kém của khúc ruột miền Trung.       
Chiến tranh kết thúc, miền Nam hoàn toàn giải phóng, bố tôi trở về trong niềm hân hoan của gia đình. Nhưng niềm vui “ngắn chẳng tày gang”, vì "bóng ma" chiến tranh vẫn đeo bám gia đình tôi với thứ chất độc da cam quái ác. Nó bắt ba đứa em tội nghiệp của tôi sớm phải lìa xa cuộc đời này, còn đứa em út mãi mà không thành người lớn... Tôi không thể quên được những giọt nước mắt chảy ra đỏ như máu của mẹ; khuôn mặt xám xịt, ám khói chiến trường của bố.
Khi bố không còn đủ sức làm trụ cột kinh tế của gia đình nữa thì mẹ với đôi vai gầy guộc lấy chợ xép làm đất mưu sinh, đôi quang gánh làm phương tiện sống cho cả gia đình. Ngày ấy, quê tôi (Thạch  Bằng, Lộc Hà, Hà Tĩnh) có chợ phiên buổi sáng và buổi chiều ở hai vị trí khác nhau. Nói là chợ nhưng thực chất lúc đầu chỉ là nơi người dân tụ tập để trao đổi nông sản, hải sản do chính họ làm ra một cách tự phát. Đó có khi chỉ là một ít khoai, ít đậu, lạc hay bó rau, mớ cá, mớ hàu, mớ hến… đem ra bán để mua về thứ khác cho gia đình. Về sau, người ta dùng tre, nứa, rơm, rạ dựng thành các lều chợ nhỏ nhắn, rất đặc trưng của vùng quê thuần nông. Lúc đó mới xuất hiện những người bán hàng xén, những tiểu thương thu mua nông sản, hải sản rồi đem ra chợ bán.
Mẹ tôi cũng là một trong những người như vậy. Bà mua lại tất cả những gì người dân quanh vùng bán, rồi gánh ra chợ bán lại để kiếm vài nghìn tiền lãi. Mà có khi chỉ đủ để mua một hoặc hai ký gạo, mớ tép cho gia đình qua bữa. Ngày còn nhỏ, mẹ thường cho tôi ra chợ và bao giờ cũng dúi vào tay tôi cái kẹo, tấm bánh hay một bắp ngô luộc… Tôi vô tư ăn, vô tư chơi, vô tư cười. Có biết đâu để có dù chỉ là những thứ tưởng như rất nhỏ ấy, trên trán mẹ lấm tấm mồ hôi, thậm chí thấm đẫm cả lưng áo. Và tôi càng lớn lên bao nhiêu thì đôi quang gánh của mẹ càng nặng bấy nhiêu, bởi các khoản chi cho tôi ăn học ngày thêm nhiều.  
Giờ đây bố tôi không còn nữa, mẹ cũng không đủ sức bám chợ và tôi luôn day dứt bởi không được ở gần mẹ. Mỗi lần về quê, mẹ lại đặt bàn tay nhăn nheo, chai sạn lên xoa đầu tôi như những ngày tôi theo mẹ ra chợ. Mẹ muốn truyền tình thương và những hơi ấm còn lại cho con mẹ. Một đời chợ-đời mẹ chỉ  biết có chồng con mà không làm gì cho riêng mẹ.  
Tản văn của NGUYỄN ANH SƠN